vanban.org

Bản án 189/2023/KDTM-PT — Tranh chấp về xây dựng

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/02/2023 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 87/2022/KDTM-ST Tuyên án 26/08/2022
Phúc thẩm — đang xem Bản án 189/2023/KDTM-PT Tuyên án 22/02/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — "Công ty V-Công ty HGK"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________________
Bản án số: 189/2023/KDTM-PT
Ngày: 22/02/2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng xây
dựng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quốc Đạt.

Các Thẩm phán:

1. Ông Lê Thọ Viên

2. Bà Trương Thị Thảo.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Tâm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Ông Tôn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 22/02/2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/KDTM-PT ngày

17/11/2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 87/2022/KDTM-ST ngày

26/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị

kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 955/2023/QĐXX-PT

ngày 06/02/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty V

Địa chỉ trụ sở: Số 107 đường C, Phường DE, quận T, Thành phố H

Đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị P V - Địa chỉ thường trú tại: Số

93/29 H, Phường I, quận T, Tp. H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phạm Thị

Kim P - trú tại: 93/29 đường H, Phường Y, quận T, Thành phố H là Luật sư của

Công ty Luật VT.

Bị đơn: Công ty HGK

Địa chỉ trụ sở: Số 207/52/2B đường N, Phường U, quận T, Thành phố H.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T- Địa chỉ thường trú tại: Số

124/1 Đường số E, Khu phố S, phường B, quận T, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong văn bản phản tố ngày 29 tháng 6 năm 2021, nguyên đơn Công ty

V và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp bà Ngô Thị P V trình bày: Công ty V ký kết Hợp đồng xây dựng số 01/HĐ-XD ngày 12/3/2019. Tuy nhiên, do phía Công ty HGK đã không thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết nên hai bên đã thống nhất chấm dứt hợp đồng. Tại Biên bản cuộc họp 04 bên ngày 28/5/2019, gồm có: Công ty V (Bên A- Bên giao thi công), Công ty HGK (Bên B - Bên nhận thi công), Công ty TG (Bên C - Tư vấn giám sát) và Công ty NP, ông Trương Văn H (Bên D- Tư vấn giám sát độc lập) thì Công ty V và Công ty HGK cùng thống nhất với những nội dung sau: “1. Công ty HGK đã thực hiện sai theo các yêu cầu kỹ thuật và nội dung của hợp đồng đã ký với Công ty V. 2. Công ty HGK đồng ý các sai phạm. 3. Công ty HGK và Công ty V tiến hành nghiệm thu hiện trạng công trình tính đến ngày 28/5/2019. 4. Công ty V đồng ý thanh toán các hạng mục nghiệm thu được các bên thống nhất. 5. Trường hợp Công ty V thanh toán dư, Công ty HGK có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ chi phí cho Công ty V trong vòng 15 ngày. 6. Thống nhất số tiền được nghiệm thu tại công trình là 514.455.000 đồng. Tổng số tiền Công ty V đã thanh toán: 1.082.054.000 đồng. Số tiền Công ty HGK phải hoàn trả: 567.599.000 đồng. 7. Hình thức thanh toán: Công ty HGK có trách nhiệm trả lại toàn bộ số tiền này làm 02 đợt: đợt 1 thanh toán 50% trước ngày 04/6/2019 và đợt 2 thanh toán 50% còn lại trước ngày 11/6/2019. Chậm thanh toán Công ty HGK phải chịu phạt 1%/ngày trên giá trị hợp đồng đã ký ngày 12/3/2019”. Như vậy, Công ty HGK đã thừa nhận tổng số tiền đã nhận của Đợt 1, Đợt 2 và một phần Đợt 3 từ Công ty V là: 372.822.000 đồng + 559.232.000 đồng + 150.000.000 đồng = 1.082.054.000 đồng. Số tiền này hoàn toàn phù hợp với nội dung các bên xác nhận trong Biên bản cuộc họp ngày 28/5/2019. Do đó, việc Công ty HGK khởi kiện đòi Công ty V trả số tiền 409.232.000 đồng là không có căn cứ. Như vậy, Công ty HGK còn phải hoàn trả lại cho Công ty V số tiền 567.599.000 đồng, nhưng đến nay Công ty HGK vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền này. Công ty V có yêu cầu Công ty HGK phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty V số tiền đã nhận 567.599.000đ (năm trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm chín mươi chín ngàn) đồng theo Biên bản cuộc họp ngày 28/5/2019 và thanh toán tiền lãi tính từ ngày 11/6/2019 tạm tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm theo lãi suất 10%/năm.

Trong đơn khởi kiện ngà y 25 tháng 02 năm 2021 bị đơn là Công ty HGK

và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Văn T trình bày: Ngày 12/3/2019, Công ty V (Bên giao thi công - Bên A), ký Hợp đồng xây dựng số 01/HĐ-XD với Công ty HGK (Bên nhận thi công - Bên B). Theo hợp đồng này, Công ty HGK nhận thi công xây dựng showromm tóc của Công ty V tại địa chỉ: 99 Phan Huy Ích, Phường 15, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh với thời hạn thi công là 55 ngày;

tổng giá trị hợp đồng là 1.864.108.000 đồng (Một tỷ tám trăm sáu mươi bốn

triệu một trăm lẻ tám ngàn) đồng, chưa bao gồm 10% thuế VAT. Hình thức giao

thầu trọn gói. Phương thức bên A thanh toán làm 05 đợt:

Đợt 1: 20% giá trị hợp đồng trong vòng 02 ngày sau khi ký kết hợp

đồng là 372.822.000 đồng.

Đợt 2: 30% giá trị hợp đồng sau khi đổ bê tông móng, đà kiềng và đà

giằng 559.232.000 đồng.

Đợt 3: 30% giá trị hợp đồng sau khi đổ bê tông sàn lầu 1 (tầng trệt)

559.232.000 đồng.

Đợt 4: 15% giá trị hợp đồng sau khi đổ nghiệm thu công trình

279.616.000 đồng.

Đợt 5: 5% giá trị hợp đồng bảo hành công trình 93.206.000 đồng.

Thực hiện hợp đồng, Công ty HGK đã xây dựng xong giai đoạn 3 của

showromm tóc (theo Biên bản nghiệm thu tháng 4/2019 có xác nhận của giám

sát bên A). Tuy nhiên, Công ty V mới chỉ thanh toán cho Công ty HGK số tiền

150.000.000 đồng, số tiền còn lại Công ty V chưa thanh toán là 409.232.000

đồng. Công ty HGK xác nhận Công ty V đã thanh toán cho Công ty HGK tổng

cộng số tiền 1.082.054.000 đồng. Do Công ty V vi phạm hợp đồng hai bên đã ký

kết nên Công ty HGK đã ngưng thi công giai đoạn 4 để tránh việc bị thiệt hại,

đồng thời yêu cầu Công ty V phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty

HGK số tiền 409.232.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện

hợp pháp của Công ty HGK rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với Công ty V về

việc đòi Công ty V thanh toán số tiền 409.232.000 đồng. Đồng thời, đề nghị Hội

đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty V với lý do

Công ty HGK không thừa nhận chữ ký và con dấu trong Biên bản cuộc họp

ngày 28/5/2019 là của Công ty HGK nhưng tại phiên tòa đại diện Công ty HGK

không yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định đối với chữ ký và con dấu trên.

Bản án số 87/2022/KDTM-ST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân quận

Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty HGK về

việc đòi Công ty V thanh toán số tiền 409.232.000đ (Bốn trăm lẻ chín triệu hai

trăm ba mươi hai ngàn) đồng theo Hợp đồng xây dựng số 01/HĐ-XD ngày

12/3/2019.

2. Thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự như sau: Nguyên đơn: Công

ty V - Bị đơn: Công ty HGK.

3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty V. Buộc Công ty HGK phải

thanh toán trả cho Công ty V số tiền 748.975.261đ (Bảy trăm bốn mươi tám

triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn hai trăm sáu mươi mốt) đồng, trong đó nợ gốc: 567.599.000 đồng và khoản tiền lãi chậm thanh toán là 181.376.261 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án

xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các

đương sự.

- Ngày 29/8/2022 ông Huỳnh Văn T đại diện theo pháp luật Công ty HGK

có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận được việc giải

quyết vụ án với nội dung: Bị đơn Công ty HGK đồng ý thanh toán cho nguyên đơn Công ty V số tiền gốc là 567.599.000 (năm trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm chín mươi chín ngàn) đồng theo phương án sau:

- Chậm nhất đến hết ngày 22/03/2023 sẽ thanh toán 50.000.000 (năm

mươi triệu) đồng;

- Chậm nhất đến hết ngày 22/8/2023 thanh toán số tiền còn lại là

517.599.000 (năm trăm mười bảy triệu năm trăm chín mươi chín ngàn) đồng;

- Nếu bị đơn Công ty HGK không thanh toán đúng thời hạn thỏa thuận

như trên thì sẽ chịu lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường theo quy định pháp luật và Công ty V được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành ngay bản án đã có hiệu lực pháp luật để thu hồi khoản tiền mà Công ty HGK thực tế còn nợ Công ty V.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ lý hồ sơ đến thời điểm xét xử thấy rằng

Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án, tiến hành lập hồ sơ, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, việc cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo đúng quy định tại Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay,

phiên tòa tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng

như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn, đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 58, Điều 59, Điều 60, Điều 61, Điều 74, Điều 199,

Điều 200, Điều, 201 Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc

thẩm ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa nguyên đơn Công ty V và bị đơn

Công ty HGK về phương thức thanh toán số tiền gốc 567.599.000 (năm trăm sáu

mươi bảy triệu năm trăm chín mươi chín ngàn) đồng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại

phiên tòa và kết quả tranh luận của các đương sự;

Sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát;

Sau khi thảo luận và nghị án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Huỳnh Văn T đại diện theo

pháp luật Công ty HGK làm trong thời hạn luât định nên được chấp nhận.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn thỏa

thuận được với nhau việc giải quyết vụ án.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự phù hợp với quy định pháp

luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm công nhận

sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa hôm nay. Đây là tình tiết mới nên

cấp sơ thẩm không có lỗi.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận của

các đương sự. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của

Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Công ty HGK chịu 13.351.980

đồng.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do các bên thỏa thuận được việc giải

quyết vụ án nên người kháng cáo Công ty HGK phải chịu án phí phúc thẩm.

Từ những phân tích trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Điều 300, Khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân

sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định vế án phí, lệ phí tòa án:

Tuyên xử: Công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn Công ty V và bị

đơn Công ty HGK, sửa bản án sơ thẩm:

1. Bị đơn Công ty HGK đồng ý thanh toán cho nguyên đơn Công ty V số

tiền gốc là 567.599.000 (năm trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm chín mươi chín

ngàn) đồng theo phương án sau:

- Chậm nhất đến hết ngày 22/03/2023 sẽ thanh toán 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng;

- Chậm nhất đến hết ngày 22/8/2023 thanh toán số tiền còn lại là

517.599.000 (năm trăm mười bảy triệu năm trăm chín mươi chín ngàn) đồng.

Nếu bị đơn Công ty HGK không thanh toán đúng thời hạn thỏa thuận như

trên thì sẽ chịu lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường theo quy định pháp luật và nguyên đơn Công ty V được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành ngay bản án đã có hiệu lực pháp luật để thu hồi khoản tiền mà bị đơn Công ty HGK thực tế còn nợ nguyên đơn Công ty V.

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho

đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

3. Về án phí:

3.1 Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn Công ty HGK chịu 13.351.980 (mười ba triệu ba trăm năm mươi

một ngàn chín trăm tám mươi) đồng. Cấn trừ số tiền tạm ứng án phí là 10.184.640 (mười triệu một trăm tám mươi bốn ngàn sáu trăm bốn mươi) đồng mà Công ty HGK đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2019/0069205 ngày 22/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn Công ty HGK còn phải nộp thêm số tiền là 3.167.340 (ba triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn ba trăm bốn mươi) đồng.

- Hoàn trả lại cho Công ty V số tiền 15.681.469 (mười lăm triệu sáu trăm

tám mươi mốt ngàn bốn trăm sáu mươi chín) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí tòa án số AA/2021/0030659 ngày 06/12/2021 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh.

3.2. Án phí dân sự phúc thẩm:

- Bị đơn Công ty HGK phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 2.000.000

(hai triệu) đồng. Cấn trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà Công ty HGK đã nộp 2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án số AA/2021/0031933 ngày 19/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn Công ty HGK đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Việc thi hành được thực hiện tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm

quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thảo – Lê Thọ Viên

Đỗ Quốc Đạt

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND Tối cao;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- TAND Cấp cao tại TP.HCM;

- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;

- VKSND TP.HCM;

- Cục THADS TP.HCM;

- TAND quận Tân Bình;

- Chi cục THADS quận Tân Bình;

- Các đương sự;

- Lưu: VP, hồ sơ.

Đỗ Quốc Đạt

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thảo – Lê Thọ Viên

Đỗ Quốc Đạt

Cỡ chữ