- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết D và ĐP phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết D và bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA Bản án số: 189 /2023/HS - ST Ngày: 27/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tân Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Dương Thị Phương
Bà Phạm Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND Thành phố Thanh hoá tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Thuận - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 202/2023/HSST/TLST - HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2023/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Viết D, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá:7/12; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn D và bà Vũ Thị T; Bị cáo có vợ: Vũ Thị Thanh C và 01 con sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 22/12/2021 Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử hành chính về hành vi “ Xâm hại sức khỏe người khác và hành vi sử dụng các loại vũ khí mà không có giấy phép”;
Nhân thân: Ngày 06/10/2020 Công an thành huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử hành chính về hành vi “ Xâm hại sức khỏe người khác”;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/11/2022; chuyển tạm giam ngày 11/11/2022. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; “ Có mặt”.
2. Nguyễn Văn B, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT: Số nhà 55 C, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Số nhà 07/27/58 N, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá:12/12; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn C (Đã chết) và bà Lại Thị L; Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị H và có 01 con sinh năm 2016; Tiền án;Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/6/2019 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/11/2022; chuyển tạm giam ngày 11/11/2022. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; “ Có mặt”.
Người làm chứng:
1. Anh Bùi Mạnh H - Sinh năm 2000 “ Vắng”
Địa chỉ: Phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
2. Anh Nguyễn Hồng L - Sinh năm 2000 “ Vắng”
Địa chỉ: Phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
3. Anh Hoàng Văn H - Sinh năm 2002 “ Vắng”
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 35 phút ngày 02/11/2022, tại khu vực phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố T phát hiện Bùi Mạnh H có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Kết quả thu giữ trong túi quần bên phải đang mặc của H 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước (4x6)cm viền đỏ, bên trong chứa chất bột màu đỏ nghi là ma túy tổng hợp; 01 điện thoại Iphon 7 màu đen, lắp số sim 0349926480.
Về nguồn gốc ma túy, H khai nhận: Khoảng 23 giờ 05 phút ngày 01/11/2022, H nhờ bạn là Nguyễn Hồng L chở đến nhà Nguyễn Viết D để mua ma túy. Đến trước cổng nhà D khoảng 3 mét, L dừng xe chờ, H xuống xe đi bộ đến trước cổng gọi điện cho D hỏi mua 03 viên hồng phiến thì D đồng ý bán với số tiền là 300.000đ. H cuộn tiền rồi ném vào trong cổng nhà D, D đi từ trong nhà ra cổng nhặt tiền lên, rồi đưa qua ô cửa cổng cho H 01 (một) túi giấy màu đỏ được cuộn tròn, bên trong chứa 03 viên hồng phiến. Sau khi mua được ma túy H đem về nhà giã nát 03 viên hồng phiến và sử dụng một phần, phần còn lại H bỏ vào túi nilon màu trắng viền đỏ, cất vào túi quần bên phải. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 02/11/2022 thì bị Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa kiểm tra phát hiện, thu giữ số ma túy trên và đưa H về trụ sở làm việc.
Tại Bản kết luận giám định số 3879/KL-KTHS ngày 8/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
Chất bột màu đỏ của phong bì niêm phong, thu của Bùi Mạnh H gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,021g (không phẩy không hai một gam) loại Methamphetamine.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/11/2022, Nguyễn Viết D đã đến Công an phường Đ, thành phố T đầu thú và khai nhận: Để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên khoảng tháng 10 năm 2022 (không nhớ ngày) D xin được số điện thoại mà D cho rằng đó là của Bùi Thị H (H Béo), sinh năm 1989, trú tại số 10 Phó Đức Chính, Phường Ba Đình, thành phố Thanh Hoá (do không lưu số và đã làm mất số sim của mình nên D không nhớ số điện thoại này). D dùng số điện thoại 0925.424.026 gọi điện cho H đặt mua 50 viên ma túy tổng hợp loại hồng phiến, thì H tắt máy. Một lúc sau, có một người đàn ông gọi điện lại cho D (không nhớ số điện thoại, không biết tên tuổi, địa chỉ) giới thiệu là chỗ chị H, người đàn ông này đồng ý bán 50 viên hồng phiến giá 4.000.000 đồng và hẹn gặp D ở khu vực Cầu Cao, phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa để giao dịch. Sau đó, D đi ra điểm hẹn thì thấy có người đàn ông đi xe taxi (không nhớ hãng và biển kiểm soát xe) đứng chờ ở khu vực Cầu Cao. Diện đi lại xe taxi thì người này đưa cho D 01 một nilon bên trong chứa 50 viên hồng phiến, D đưa cho người đàn ông này số tiền 4.000.000đ, rồi đi về nhà. Số ma túy này D mang về nhà cất giấu mục đích để bán và sử dụng, nhưng do D sử dụng gần hết, còn lại 04 viên thì ngày 01/11/2022, Bùi Mạnh H gọi điện hỏi mua 3 viên ma túy, D đồng ý bán với số tiền là 300.000 đồng, còn lại 1 viên để trong phòng ngủ với mục đích để bán thì bị thu giữ khi khám xét khẩn cấp. Số tiền 300.000 đồng D đã chi tiêu hết.
Ngoài ra, ngày 28/9/2022, Nguyễn Viết D còn mua của Nguyễn Văn B, 06 viên ma tuý tổng hợp loại thuốc lắc (kẹo) và 1 chỉ ketamin (ke) với số tiền là 4.800.000đ (bốn triệu tám trăm nghìn) đồng ở khu vực cổng Trường Chính trị, có địa chỉ tại phường Quảng Thắng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. D mới chuyển khoản trả cho Bình số tiền là 1.000.000 đồng, còn nợ B số tiền là 3.800.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu tại phòng ngủ của mình mục đích bán và sử dụng, do lâu không có ai hỏi mua nên D đã sử dụng hết số thuốc lắc, còn lại một ít ketamine dính trên đĩa sứ, túi nilon trong phòng ngủ của Diện, sau đó bị Cơ quan điều tra thu giữ trong quá trình khám xét.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Viết D ở địa chỉ phố T, phường Đ, thành phố T, thu giữ trong phòng ngủ:
- 01 (một) 01 viên nén màu hồng hình tròn đường kính 0,5 cm.
- Chất tinh bột màu trắng để trên đĩa sứ trong phòng ngủ của D được thu giữ cho vào túi ni lông.
- 03 (ba) túi nilon, hình vuông kích thước (3x3)cm có viền dán màu xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 02 (hai) túi nilon hình chữ nhật kích thước (8x5)cm viền dán màu đỏ; 02 (hai) túi nilon hình chữ nhật kích thước (7x4)cm có viền dán màu đỏ bên trong bám dính tinh thể dạng bột màu trắng.
- 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng, có đường kính 18cm.
- 01 (một) ống hít hình trụ tròn được cuốn từ tờ tiền mệnh giá 10.000đ, đường kính 0,7cm, dài 13cm được cố định hai đầu bằng vỏ đầu lọc thuốc lá.
- 03 (ba) túi ni lông hình vuông, kích thước 3x3cm, có viền dán màu xanh, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng.
- 02 (hai) túi ni lông hình chữ nhật, kích thước 8x5cm và 02 túi ni lông hình chữ nhật kích thước 4x7cm có viền dán màu đỏ bên trong đều có chất bám dính tinh thể bột màu trắng.
- 01 (một) dao lê, kích thước dài 31cm.
- 136 (một trăm ba mươi sáu) túi ni lông hình chữ nhật, kích thước 4x7cm có viền dán màu đỏ, chưa qua sử dụng.
- 01 (một) bộ loa vi tính màu đen, kích thước 15x20x22cm, nhãn hiệu DEUX đã qua sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 3902/KL-KTHS ngày 9/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
- 01 (một) viên nén màu hồng hình tròn đường kính 0,5 cm thu của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,107 gam (không phẩy một không bảy gam) loại Methamphetamine;
- Chất tinh bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng là 0,074 gam (không phẩy không bảy bốn gam) loại Ketamine.
- Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 03 (ba) túi nilon, hình chữ vuông kích thước (3x3)cm, có viền dán màu xanh của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine. Không xác định được khối lượng chất tinh thể màu trắng.
- Chất tinh thể dạng bột màu trắng bám dính trong 02 (hai) túi nilon hình chữ nhật kích thước (8x5)cm; 02 (hai) túi nilon hình chữ nhật kích thước (7x4)cm có viền dán màu đỏ của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine. Không xác định được khối lượng chất tinh thể màu trắng.
Tại Bản kết luận giám định số: 4302/KL-KTHS ngày 08/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 01 (một) vật bằng kim loại không có số kí hiệu dài 31cm trong vụ trên gửi đến giá định thuộc loại vũ khí thô sơ.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2022, Nguyễn Văn B đã đến Công an phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đầu thú và khai nhận:
Khoảng đầu tháng 8 năm 2022, tại một quán bar trên địa bàn thành phố Hà Nội (không nhớ rõ địa chỉ) Nguyễn Văn B đã gặp và mua được 08 (tám) viên thuốc lắc và 1 chỉ ketamine của một người đàn ông tên T (không biết rõ nhân thân lai lịch ở đâu ) với số tiền là 3.600.000đ. Sau khi mua được ma túy mang về nhà mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, B đã sử dụng hết 02 viên thuốc lắc. Đến ngày 28/9/2022, Nguyễn Văn B đang ở nhà thì D gọi điện cho B hỏi mua 06 viên thuốc lắc và 01 chỉ Ketamine, B đồng ý bán cho D với số tiền là 4.800.000đ (bốn triệu tám trăm nghìn đồng) và nhắn tin số tài khoản cho D để chuyển tiền, D chưa có tiền nên đã khất nợ B sẽ trả sau, B đồng ý. B bọc số ma túy trên vào túi bóng ni lông màu đen rồi gọi điện cho Hoàng Văn H, sinh năm 2002, trú tại thôn Xuân Thành, xã Thành Trực, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa (là em xã hội quen với B), nhờ H đưa cho D. Sau đó, Hoàng Văn H điều khiển xe mô tô, cầm túi nilon trên đi đến cổng trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa, phường Quảng Thắng, thành phố Thanh Hóa đưa cho Nguyễn Viết D, rồi cả hai đi về. Lâu không thấy D trả tiền nên B có gọi điện đòi tiền của D, đến ngày 01/11/2022, Diện có nhờ chị gái là Nguyễn Thị Lan A chuyển cho B số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Số tiền này B đã tiêu xài cá nhân hết.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn B tại số 07/27/58 N, phường Q, thu giữ tại phòng ngủ tầng 2 của B:
- 01 (một) thẻ ATM ngân hàng ACB, số 9704162472420049; 01 (một) thẻ ATM Vietcombank số:9704366812655203028; 01(một) thẻ ATM ngân hàng MB số:9704222049507650 đều mang tên Nguyễn Văn B.
- Nguyễn Văn B tự nguyện giao nộp số tiền 840.000.000đ (tám trăm bốn mươi triệu đồng).
Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen, gắn sim số 0349.926.480 Bùi Mạnh H mượn của Nguyễn Hồng L; 136 túi nilon hình chữ nhật, kích thước (4x7) cm, có viền dán màu đỏ của chị Nguyễn Thi Lan A (chị gái D); số tiền 840.000.000 triệu đồng của bà Lại Thị Loan (mẹ Bình); 03 thẻ ngân hàng (ngân hàng ACB, số 9704162472420049; Vietcombank, số 9704366812655203028; ngân hàng MB số 9704222049507650 đều mang tên Nguyễn Văn B); căn cước công dân số 038099016892 tên Nguyễn Viết D, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
02 (hai) phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa (vật chứng còn lại sau giám định); 01 (một) bộ loa vi tính màu đen, kích thước 15x20x22cm, nhãn hiệu DEUX đã qua sử dụng; 01 đĩa sứ hình tròn, kích thước đường kính 18cm; 01 (một) ống hít hình trụ tròn được cuốn từ tờ tiền mệnh giá 10.000đ, đường kính 0,7cm, dài 13cm được cố định hai đầu bằng vỏ đầu lọc thuốc lá; 01 phong bì, được dán kín, niêm phong bên trong có 01 (một) vật bằng kim loại, không có số kí hiệu, dài 31 cm, đang tạm giữ tại Kho vật chứng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thanh Hóa, được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 02 điện thoại di động mà Nguyễn Viết D và Nguyễn Văn B dùng để liên lạc mua bán ma túy, đã bị mất, không thu giữ được.
Đối với Bùi Mạnh H là người mua ma túy của Nguyễn Viết D mục đích để sử dụng, nhưng khối lượng ma túy Hùng tàng trữ theo kết luận giám định là 0,021g, Methamphetamine, nên không đủ để xử lý Bùi Mạnh H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Bùi Mạnh H.
Đối với Nguyễn Hồng L là người chở Bùi Mạnh H đi mua ma túy, nhưng cả H và L đều khai nhận: L không biết, không tham ra việc H đi mua ma túy về sử dụng nên không có cơ sở để xử lý đối với L.
Đối với Bùi Thị H là người D khai bán ma túy cho D, quá trình điều tra đã lấy lời khai, đối chất, nhưng H không thừa nhận đã bán ma túy cho D hay một ai khác, D không gặp trực tiếp H, cũng không dám khẳng định người nói chuyện điện thoại đó có phải H không, cũng không có tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh nên không có cơ sở để xử lý đối với H.
Đối với, Hoàng Văn H là người đã đưa ma túy cho D giúp B, nhưng H không biết đó là ma túy, không tham gia việc mua bán ma túy giữa B và D, nên không có cơ sở để xử lý đối với Hả
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Viết D ở khu vực Cầu Cáo, phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa, nhưng D không biết người này là ai, ở đâu, số điện thoại dùng để giao dịch cũng không nhớ, nên không có căn cứ để xác định.
Đối với người đàn ông tên T bán ma túy cho Nguyễn Văn B tại quán bar trên địa bàn thành phố Hà Nội, B không nhớ tên quán, địa chỉ quán, cũng không rõ lai lịch của T, nên không có cơ sở để xác minh, xử lý.
Đối với hành vi tàng trữ 01 con dao lê dài 31 cm, của Nguyễn Viết D, theo kết luận giám định thuộc loại vũ khí thô sơ, nên Công an thành phố Thanh Hóa đã chuyển UBND thành phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí thô sơ” đối với Nguyễn Viết Diện.
Tại bản cáo trạng số 149/CTr - VKSTPTH ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Nguyễn Viết D và bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh hoá luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Viết D mức án từ 28 đến 31 tháng tù; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B mức án từ 25 đến 28 tháng tù; Đề nghị HĐXX xử lý vật chứng, truy thu số tiền bán ma túy và buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhận tội và công nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng và không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo Diện đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo Bình không nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Công an thành phố Thanh hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận: Khoảng 23 giờ 05 phút ngày 01/11/2022, tại phố Tân Cộng, phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Viết D đã có hành vi bán trái phép 0,021g ma túy, loại Methamphetamine cho Bùi Mạnh H với số tiền là 300.000 đồng và cất giấu 0,107g ma túy, loại Methamphetamine và 0,047g ma túy, loại Ketamine, để bán kiếm lời. Tổng khối lượng hai chất ma túy trong vụ án tương đương 0,139g Methamphetamine hoặc 0,558g Ketamine.
Ngày 28/9/2022, tại khu vực cổng trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa, phường Quảng Thắng, thành phố Thanh Hóa, Nguyễn Văn B đã bán trái phép 06 viên thuốc lắc và 01 chỉ Ketamine cho Nguyễn Viết D, với số tiền là 4.800.000 đồng. Diện mới trả cho Bình số tiền 1.000.000đ. Ngày 02/11/2022, Nguyễn Văn B đã đến Công an phường Đông Tân, thành phố Thanh Hoa, tỉnh Thanh Hóa đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay thống nhất với lời khai trước đây các bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, mức độ phạm tội và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội độc lập, không có tính chất đồng phạm. Xét hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi những hậu quả rất nghiêm trọng do việc mua bán, vận chuyển, nghiện chất ma tuý gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, bị cáo hiểu rõ về tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo Nguyễn Viết D có nhân thân và tiền sự về hành vi “ Xâm hại sứa khỏe của người khác, sử dụng các loại vũ khí mà không có giấy phép”, bị cáo Nguyễn Văn B có nhân thân bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nay các bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó chứng tỏ các bị cáo không chịu rèn luyện bản thân và xem thường pháp luật, nên cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình. Do đó khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Do các bị cáo đều làm nghề lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để sung quỹ Nhà nước là phù hợp pháp luật.
Về vật chứng: Số ma túy được niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành và các vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy gồm:
- 02 (hai) phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa (vật chứng còn lại sau giám định); -
- 01 đĩa sứ màu trắng;
- 01 phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kèm chữ ký, chữ viết của Lê Văn Quân, Nguyễn Thế Thanh;
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước các vật chứng các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội gồm:
- 01 ống hút được cuộn từ tờ tiền polymer mệnh giá 10.000đ
- Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với Nguyễn Viết Diện số tiền 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng), tiền bán ma túy cho Bùi Mạnh Hùng; Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn B số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), tiền bị cáo bán ma túy cho bị cáo Diện.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Viết D 01 bộ loa vi tính màu đen, đã cũ, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
Theo quy định tại khoản 1, điểm a, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án ( Áp dụng chung đối với cả hai bị cáo);
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết D và bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Nguyễn Viết D 28 ( Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2022.
Xử phạt: Nguyễn Văn B 25 ( Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2022.
Về vật chứng:
* Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 02 (hai) phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa (vật chứng còn lại sau giám định); -
- 01 đĩa sứ màu trắng;
- 01 phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kèm chữ ký, chữ viết của Lê Văn Quân, Nguyễn Thế Thanh;
* Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước gồm:
- 01 ống hút được cuộn từ tờ tiền polymer mệnh giá 10.000đ
- Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với Nguyễn Viết D số tiền 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng), tiền bán ma túy cho Bùi Mạnh H; Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn B số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), tiền bị cáo bán ma túy cho bị cáo D.
* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Viết D 01 bộ loa vi tính màu đen, đã cũ, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 136/2023/THA ngày 23 tháng 3 năm 2023 giữa Công an Thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Viết D, Nguyễn Văn B, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.
Người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP. Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an TP. Thanh Hóa; - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Lê Thị Tân |