- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phạm Văn Hoàng Q phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đườn…"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Hoàng Q.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 189/2023/HS-PT Ngày: 01 – 11 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Xuân Long.
Các Thẩm phán: Ông Mai Văn Hùng Cường;
Ông Võ Ngọc Giàu.
- Thư ký phiên tòa: à Trần Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Phi, Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 170/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Văn Hoàng Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Văn Hoàng Q, sinh ngày 12/9/2004, tại tỉnh Tiền Giang;
Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Phạm Văn H, sinh năm 1980 và bà Tô Thị Trúc L, sinh năm 1983; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; ị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
ị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
ị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án có 01 người đại diện hợp pháp của người bị hại; 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn Hoàng Q, sinh ngày 12/9/2004 chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định. Vào khoảng 02 giờ ngày 13/8/2022, trên đường đi làm thuê ở vựa mít Kim O tại ấp T, xã A, huyện C về Q điều khiển xe moto biển số 63H6-5741 của anh Tô Văn Quốc T (cậu ruột của Q), sinh năm 1987, thường trú: ấp M, xã M, huyện C, tạm trú: khu phố Ô, phường T, thị xã T, tỉnh ình Dương đứng tên chủ sở hữu lưu thông trên quốc lộ 1, hướng M đi T để đến địa bàn ấp H, xã H, huyện C ăn tối. Q điều khiển xe moto biển số 63H6-5741 đi trên làn đường giữa, khi đến KM 2012+250M thuộc ấp M, xã T, huyện C do thiếu quan sát và không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước nên Q để xe moto biển số 63H6-5741 đụng vào phía sau xe đạp do ông Phan Văn C, sinh năm 1935, cư trú số N, N, tổ S, khóm B, phường H, TP. C, tỉnh Đồng Tháp điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước trên làn đường giữa, làm ông C ngã xuống đường, còn Q té ngã trượt về trước ra hướng dãy phân cách cứng nằm cách vị trí va chạm giữa 02 xe là 25,8m, cách dãy phân cách cứng là 1,7m, Q bị ngất xỉu khoảng 5 phút thì tỉnh dậy dựng xe moto lên. Mặc dù vừa biết gây tai nạn nhưng Q vẫn điều khiển xe rời khỏi hiện trường đi vào đường dẫn trạm dừng chân P thuộc ấp H, xã H, huyện C cách hiện trường khoảng 380m, lúc này Q bị mệt nên vào quán nước ven đường nằm nghỉ và để xe moto biển số 63H6-5741 trên đường dẫn vào trạm dừng chân P. Sau khi tai nạn xảy ra những người bạn đi cùng gồm: Nguyễn Văn G, sinh ngày 06/7/2005, cư trú ấp M, xã M, huyện C, Nguyễn Văn Trường S, sinh ngày 22/4/2002, cư trú ấp M, xã T, huyện C và Hồ Nguyễn Chí T1, sinh ngày 11/9/2006, cư trú ấp M, xã M, huyện C đã đến Công an xã T trình báo, khi G, S, T1 cùng Công an xã đến hiện trường thấy ông C đã tử vong, nhưng không nhìn thấy Q ở hiện trường nên đi tìm Q thì phát hiện Q nằm võng ở quán ven đường còn xe moto biển số 63H6-5741 đang đậu trên đường dẫn vào trạm dừng chân P, sau đó Q được người nhà đưa đi cấp cứu tại bệnh viện C, Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 20/8/2022 thì xuất viện.
Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 92/PY-PC09 ngày 17/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận cận lâm sàn, định lượng Ethanol (cồn) trong máu tử thi Vô Danh là 02mg/dl, nguyên nhân chết đa chấn thương, chấn thương sọ não.
Theo Kết luận giám định số 854/KL-PC09 ngày 24/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Dấu vân trỏ phải in trên chỉ bản lập ngày 13/8/2022 tại Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Tiền Giang thu điểm chỉ vân tay tử thi vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 13/8/2022 trên quốc lộ 1 đoạn KM 2012+250m thuộc ấp M, xã T, huyện C so với vân tay trỏ phải trên giấy chứng minh nhân dân số 340025075 mang tên Phan Văn C, sinh năm 1935, đăng ký thường trú: khóm B, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp xác định của cùng một người in ra.
Lỗi trong vụ tai nạn là do Q điều khiển xe moto biển số 63H6-5741 không có giấy phép lái xe theo quy định, thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe đạp chạy phía trước cùng chiều với xe của mình nên để xảy ra tai nạn và trốn tránh trách nhiệm sau khi gây tai nạn. Hành vi của Q đã vi phạm vào khoản 9, khoản 17 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 của ộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Hoàng Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Hoàng Q 03 ( a) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Ngày 14 tháng 8 năm 2023, bị cáo Phạm Văn Hoàng Q có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn Hoàng Q vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm nêu, bị cáo rất ăn năn hối hận với tội lỗi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang xác định đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Hoàng Q là hợp lệ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo 03 năm tù là mức thấp nhất của khung hình phạt, mức án trên là thỏa đáng đã tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 ộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Hoàng Q giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn Hoàng Q tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám các phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 92/PY-PC09 ngày 17/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang và Kết luận giám định số 854/KL-PC09 ngày 24/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, lời khai của đại diện hợp pháp người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Phạm Văn Hoàng Q sinh ngày 12/9/2004 chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định. Vào khoảng 02 giờ ngày 13/8/2022, Q điều khiển xe moto biển số 63H6-5741 lưu thông trên quốc lộ 1, hướng M đi T để đến địa bàn ấp H, xã H, huyện C ăn tối. Q điều khiển xe moto biển số 63H6-5741 đi trên làn đường giữa, khi đến KM 2012+250M thuộc ấp M, xã T, huyện C do thiếu quan sát và không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước nên Q để xe moto biển số 63H6-5741 đụng vào phía sau xe đạp do ông Phan Văn C, sinh năm 1935, cư trú số N, N, tổ S, khóm B, phường H, TP. C, tỉnh Đồng Tháp điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước trên làn đường giữa, làm ông C ngã xuống đường, còn Q té ngã rượt về trước ra hướng dãy phân cách cứng, Q bị ngất xỉu khoảng 5 phút thì tỉnh dậy dựng xe moto lên. Mặc dù vừa biết gây tai nạn nhưng Q vẫn điều khiển xe rời khỏi hiện trường, hậu quả làm ông C tử vong. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Văn Hoàng Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, c khoản 2 Điều 260 ộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
ị cáo Phạm Văn Hoàng Q là người dưới 18 tuổi, nhưng có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì quá cẩu thả trong lúc điều khiển xe, không tuân thủ các quy định của Luật giao thông đường bộ, bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng vẫn điều khiển xe tham gia giao thông và không làm chủ được tay lái đã đụng vào xe đạp của ông C đang lưu thông cùng chiều gây tai nạn, mặc dù vừa biết gây tai nạn nhưng Q vẫn điều khiển xe rời khỏi hiện trường, hậu quả làm ông C tử vong. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả mà mình đã gây ra.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Hoàng Q nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, nó không những trực tiếp xâm phạm đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ, tính mạng, sức khoẻ, tài sản của nhân dân, cụ thể trong vụ án này tính mạng của ông Phan Văn C bị xâm phạm nghiêm trọng, mà nó còn gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân khi tham gia giao thông trên đường. Trong vụ án này bị cáo phạm tội có 2 tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là “Không có giấy phép lái xe theo quy định và bỏ chạy nhằm trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn” được quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, điều này đã chứng tỏ rằng bị cáo xem thường tính mạng, sức khoẻ của người khác, lỗi trong vụ án này hoàn toàn ở phía bị cáo. Án sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã có xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Hoàng Q 03 năm tù là thỏa đáng, mức án trên không nặng đã tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào khác. Do đó, nghĩ nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Hoàng Q.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2023/HS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Hoàng Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 của ộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Hoàng Q 03 ( a) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2/ Về án phí: Bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3/ Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh TG; - Sở tư pháp tỉnh TG; - Phòng hồ sơ CA tỉnh TG; - TAND huyện C; - VKSND huyện C; - Công an huyện C; - THADS huyện C; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Xuân Long |