vanban.org

Bản án 189/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

Tuyên bố bị cáo Nguyễn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn T 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án (12/12/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn T phạm tội: " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2022/HSST
Ngày: 12/12/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Thanh Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Dệt và bà Tô Thị Lành.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lệ Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 12 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 191/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn T; sinh năm 1992 tại Cà Mau.

Nơi cư trú: Ấp 9, xã T, huyện B, tỉnh M.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lái xe.

Cha: Nguyễn Hữu C; Sinh năm 1970; Mẹ: Lưu Xuân D; Sinh năm 1972;

Hiện cha và mẹ của bị cáo đang cư trú tại Ấp 9, xã T, huyện B, tỉnh M. Gia đình bị cáo có 02 anh em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2006.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 14/3/2022, điều khiển xe ô tô biển số 61H-046.27 gây tai nạn giao thông. Ngày 22/7/2022 bị khởi tố và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Anh Phan T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn 2, xã D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên toà.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Lê H; sinh năm 1989.

Địa chỉ: Số 85 đường Đ, Khu phố T, phường H, thành phố A, tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.

- Chị Th, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Thôn 2, xã D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn T là người có giấy phép lái xe hạng C theo quy định. Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14/3/2022, T điều khiển xe ô tô tải biển số 61H-046.27 chở bưu phẩm đi từ trong kho hàng Viettel Post (tại địa chỉ số nhà 129 đường H, Tổ 03, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai) ra đường H với tốc độ khoảng 8km/h, xe có bật đèn chiếu sáng trước và xung quanh xe (theo lời khai của Nguyễn T) về hướng đường T để chở bưu phẩm đi đến thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Khi T điều khiển xe ô tô ra đến mép đường H thì thấy 01 xe ô tô loại xe chở hàng (không rõ biển số xe) lưu thông ở phần đường bên phải hướng đi từ Ngã tư Y về đường T, nên T dừng xe để nhường đường cho xe ô tô này. Sau khi xe ô tô này chạy qua, T tiếp tục điều khiển xe chạy ra đường H để chuyển hướng (có bật đèn báo rẽ phải) thì T thấy có một xe ô tô (loại xe tải chở hàng, không rõ biển số xe) lưu thông ở phần đường bên trái hướng T đi Ngã tư Y và xe mô tô biển số 81B1-767.23 do anh Phan T (sinh năm 1989, trú tại Thôn 02, xã D, thành phố P, tỉnh Gia Lai) điều khiển lưu thông ở phần đường bên phải theo hướng Ngã tư Y đi về đường T, thành phố P, cách xe T điều khiển 30 - 40 mét nhưng T không dừng lại mà vẫn tiếp tục điều khiển xe ra đường H. Khi xe ô tô tải chạy qua đầu xe ô tô của T thì T điều khiển xe ô tô chuyển hướng sang phải chưa kịp quan sát phương tiện phía ở sau (hướng từ Ngã tư Y) chạy đến, lúc này đầu xe ô tô cách vạch kẻ giữa đường khoảng 1,5 mét thì xảy ra vụ tai nạn giao thông với xe mô tô biển kiểm soát 81B1-767.23. Hậu quả: Anh Phan T bị thương nặng và được điều trị tại Bệnh viện Quân y 211, tỉnh Gia Lai; đến ngày 18/3/2022 thì anh T chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy điều trị; ngày 04/4/2022, anh T tiếp tục chuyển về Bệnh viện Quân y 211 điều trị đến ngày 12/4/2022 thì ra viện.

Tại phiếu đo nồng độ cồn ngày 14/3/2022 của Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai đối với Nguyễn T là 0,000 mg/l khí thở.

Tại Phiếu xét nghiệm sinh hóa miễn dịch (Mã y tế số 22003722 ngày 05/3/2022 của Khoa xét nghiệm Bệnh viện Quân y 211 đối với định lượng Ethanol (cồn)/máu của Phan T là: 280,5 mg/dl.

Tại kết luận giám định tư pháp ngày 06/4/2022 của Sở giao thông vận tải tỉnh Gia Lai đối với điều kiện an toàn kỹ thuật của xe ô tô biển số 61H-046.27 kết luận: Xe ô tô biển số 61H-046.27 tại thời điểm giám định đảm bảo an toàn kỹ thuật (trừ các chi tiết hư hỏng do tai nạn giao thông gây ra).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về T tích số 198/22/TgT ngày 11/7/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Gia Lai, kết luận tỷ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe của anh Phan T do tai nạn giao thông vào ngày 14/3/2022:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Một sẹo mổ hình chữ U vùng thái dương phải kích thước (21 x 0.6)cm, sẹo liền.

- Một sẹo mổ dẫn lưu vùng thái dương trán phải kích thước (2 x 1)cm, sẹo liền.

- Một sẹo vết T phần mềm bờ dưới cung mày phải kích thước (2,5 x 0,2)cm, sẹo liền.

- Một sẹo vết T phần mềm môi trên bên phải kích thước (2 x 0,2)cm, sẹo liền.

- Một sẹo vết T phần mềm mặt ngoài cổ tay trái kích thước (1 x 0,3)cm, sẹo liền.

- Một vết thay đổi sắc tố da mặt mu xương bàn 2-3 tay trái kích thước (5x2)cm, mờ.

- Một sẹo mổ dẫn lưu đường nách giữa khoảng gian sườn 3-4 bên phải kích thước (3,5 x 2,3)cm, sẹo liền.

- Một sẹo vết T phần mềm mặt trước gối phải kích thước (1,5x0,3)cm, sẹo liền.

- Một sẹo vết T phần mềm mặt trước trong gối phải kích thước (0,85x0,7)cm, sẹo liền.

- Một sẹo vết T phần mềm mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải kích thước (3x0,4) cm, sẹo liền.

- Chấn T ngực phải gây tràn dịch màn phổi phải đã điều trị dẫn lưu hiện không để lại di chứng.

- Chấn T ngực phải gây dập phổi đã điều trị hiện còn hình ảnh dày dính nhỏ hơn ¼ diện tích một phế trường trên phim CT-Scanner.

- Chấn T ngực trái gây dập phối trải diện hẹp ở vùng phần thủy 6 đã điều trị hiện không để lại di chứng.

- Chấn T sọ não gây tụ ngoài màng cứng hố thái dương phải đã điều trị hiện không còn hình ảnh tổn T trên phim CT-Scanner

- Chấn T sọ não gây khuyết xương thái dương phải kích thước (5,2×3 2)cm, đáy mềm không phập phồng.

- Chấn T hàm mặt gây vỡ thành trước và ngoài xoang hàm phải.

- Chấn T sọ não gây vỡ thành ngoài và trần hốc mắt phải, không ảnh hưởng đến thị lực.

- Chấn T hàm mặt gây gãy cung tiếp gò má bên phải, không ảnh hưởng chức năng.

- Chấn T hàm mặt gây gãy cung tiếp gò má bên trái, không ảnh hưởng chức năng.

2. Tỉ lệ tổn T cơ thể do T tích gây nên tại thời điểm giám định là 63% (Sáu mươi ba phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT”.

Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại phần đường bên phải đường H, hướng từ Ngã tư Y đi đường T, trước số nhà 129 H, địa phận thuộc Tổ 3, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đường H là đường hai chiều, có vạch kẻ đường dạng vạch đơn, màu trắng, nét đứt ở giữa, phân chia hai chiều đường, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, không bị che khuất tầm nhìn, rộng 10,30 mét, phần đường bên phải đường H, hướng từ Ngã tư Y đi về đường Trộng 5,10 mét. Khu vực hiện trường không lắp đặt hệ thống biển báo hiệu giao thống và hệ thống đèn tín hiệu giao thông. Xác định trụ điện số 129 làm điểm mốc, mép đường bên trái đường H hướng từ Ngã tư Y đi về đường T làm mép đường chuẩn.

Tại hiện trường vụ tai nạn giao thông, phát hiện xe ô tô biển số 61H – 046.27 được đánh số thứ tự (1); Xe ô tô (1) đồ trên mặt đường H, đầu xe hướng vào mép đường chuẩn, đuôi xe hướng vào nhà số 129 đường H. Đo từ tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô (1) vào mép đường chuẩn là 6,50 mét, đo từ tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô (1) vào mép đường chuẩn là 13,10 mét, đo từ mép trái đầu xe ô tô (1) đến vạch kẻ giữa đường là 0,90 mét. Cách tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô (1) 0,50 mét, hướng về phía mép đường chuẩn, phát hiện vùng mảnh vỡ trong diện (2,60x1,00)m, được đánh số thứ tự (2); Đo từ tâm vùng mảnh vỡ (2) đến mép đường chuẩn là 5,70 mét. Vết cày trong diện (8,75x0,30)m được đánh số thứ (3); Vết cà (3) có dạng đứt quãng, không liên tục, hướng từ Ngã tư Y đi về đường T, điểm đầu vết cà (3) trùng với lốp trước bên trái xe ô tô (1), điểm cuối vết cà (3) trùng với tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 81B1 - 767.23. Xe mô tô biển số 81B1 - 767.23 được đánh số thứ tự (4), sau tai nạn, xe mô tô (4) nằm ngã nghiêng sang trái trên mặt đường H, đầu xe mô tô (4) hướng vào vạch kẻ giữa đường, đuôi xe mô tô (4) hướng vào mép đường chuẩn. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô (4) vào mép đường chuẩn là 1,50 mét, đo từ tâm trục bánh sau xe mô tô (4) vào mép đường chuẩn là 0,25 mét. Đo từ điểm mốc đến tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô (1) là 5,50 mét.

Kết quả khám xe mô tô biển số 81B1 – 767.23:

Xe mô tô biển số 81B1 - 767.23, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: EXCITER, màu sơn xanh đen; dung tích 149; số máy: G3D4E168061; số khung: 0610FY155362; chiều dài: 190cm; chiều cao: 104cm; độ rộng tay lái: 67cm.

+ Dấu vết trên phương tiện: Nắp ốp bảo vệ đầu xe (phía trên đèn chiếu sáng trước) bị mất, bung rời khỏi vị trí lắp ráp trong diện (28 x 11) cm. Ốp bảo vệ đầu xe bị bung khỏi vị trí lắp ráp cố định, tạo độ hở 0,5cm so với vị trí ban đầu. Cụm đèn chiếu sáng trước bị gãy chốt bắt cố định, bung rời khỏi vị trí lắp ráp, tạo độ hở 1,5cm so với vị trí ban đầu. Tại vị trí bên phải cụm đèn chiếu sáng trước có vết trầy xước, mài mòn nhựa trong diện (10 x 6,2) cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái, bề mặt dính chất màu bạc. Tại vị trí mặt trước, đầu tay phanh bên phải có vết trầy xước sơn, mài mòn kim loại, bề mặt dính chất màu bạc trong diện (15,2 x 1,4)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Vị trí bên phải mặt nạ, ốp nhựa bảo vệ phía trước đầu xe bị nứt, vỡ nhựa, bề mặt bị trầy, xước sơn, dính chất màu bạc, trong diện (36,5 x 17,2)cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái. Đầu tay nắm lái bên trái bị trầy xước, mài mòn nhựa, rách cao su trong diện (4,4 x 1,9)cm. Tại vị trí mặt trước, trên của đầu tay côn bên trái có vết trầy xước sơn, mài mòn kim loại trong diện (1,4 x 0,5 cm. Vị trí bên trái đầu, thân dè chắn bùn bánh trước bị nứt, vỡ nhựa, trầy xước sơn, bề mặt dính chất màu bạc trong diện (28,5 x 12,1)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Ốp nhựa bảo vệ thân xe phía trước bên phải bị nứt, vỡ nhựa trong diện (59,8 x 38,2)cm. Cần số trước bên trái bị cong, vênh, áp sát vào thân máy, lệch 2,5cm so với vị trí ban đầu. Tại vị trí đầu cần đạp số có vết trầy xước, mài mòn kim loại trong diện (1,3 x 1,1)cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải. Gác để chân trước bên trái bị lệch khỏi vị trí lắp ráp ban đầu 4cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải. Bề mặt dưới, phía trước gác để chân này bị mài mòn, trầy, xước kim loại trong diện (13,1 x 2,3)cm, bề mặt bị mài mòn, trầy xước dính bụi, đất màu nâu, đỏ. Tại vị trí lắp ráp cố định gác để chân sau bên trái có vết trầy xước, mài mòn kim loại trong diện (3,7 x 2,6)cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải. Bề mặt thân ốp bảo vệ thân xe bên trái có vết trầy, xước sơn, mài mòn nhựa trong diện (15,4 x 3,4)cm, chiều hướng không xác định. Tại vị trí đầu tay dắt sau bên trái có vết trầy xước sơn, mài mòn kim loại trong diện (1,4 x 0,9)cm, chiều hướng từ trái sang phải.

+ Kỹ thuật an toàn phương tiện: Sau khi bị tai nạn giao thông, xe mô tô bị hư hỏng, không khởi động được nên không kiểm tra được sự hoạt động. Gương chiếu hậu: Có lắp đặt gương chiếu hậu bên trái, không lắp đặt gương chiếu hậu bên phải. Hệ thống phanh: Có lắp đặt nhanh chân, phanh tay. Kiểm tra hiệu lực của phanh chân, phanh tay: Hoạt động có hiệu lực. Hệ thống đèn chiếu sáng trước, đèn tín hiệu trước, sau, phải, trái, đèn báo dừng: Có lắp đặt, không kiểm tra được sự hoạt động do không khởi động được xe.

Qua định giá, xác định giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 81B1 - 767.23 là 1.450.000 (một triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng.

Kết quả khám xe ô tô biển số 61H - 046.27:

Xe ô tô biển số 61H-046.27, nhãn hiệu CHENGLONG; màu sơn Bạc; số chỗ ngồi 3; số máy: YC4EG20050EJ1L4M00094, số khung: LGGR3AG57MR231293.

+ Dấu vết trên phương tiện: Phía dưới cửa lên xuống phía trước bên trái có vết móp méo, trầy xước, rách kim loại trong diện (46,5 x 33,6)cm, tâm vết hướng vào trong lốc máy, lõm sâu 1,2cm so với vị trí ban đầu, đo từ tấm vết xuống mặt đất là 137,5cm. Tại vị trí ốp nhựa ngay dưới cửa lên xuống bên trái có vết trầy, xước sơn trong diện (27 x 5,2)cm, chiều hướng từ sau ra trước. Mặt ngoài bậc thứ nhất (từ trên xuống) của bệ để chân lên, xuông cửa bên trái xe ô tô bị trầy, xước sơn, mài mòn nhựa trong diện (9 x 4,9)cm, chiều hướng từ sau ra trước. Phần đầu bậc thứ hai (từ trên xuống) của bệ để chân lên, xuống cửa bên trái xe ô tô bị nứt, vỡ nhựa trong diện (19 x 17)cm, chiều hướng không xác định, mặt ngoài bậc thứ hai của bé để chân lên, xuống bên trái xe ô tô bị trầy xước sơn, mài mòn nhựa trong diện (9 x 4,9)cm, chiều hướng từ sau ra trước. Cụm đèn chiếu sáng trước bên trái bị nứt, vỡ hoàn toàn trong diện (55 x 28)cm, bung rời khỏi vị trí lắp ráp, tạo độ hở so với vị trí ban đầu 5,2cm. Vị trí bên trái cản trước bị trầy xước sơn, móp méo, cong vênh kim loại, không rõ hình dạng, bề mặt dính chất màu xanh trong diện (36 x 17)cm, chiều hướng không xác định.

+ Kỹ thuật an toàn phương tiện: Theo kết luận giám định tư pháp ngày 06/4/2022 của Sở giao thông vận tải tỉnh Gia Lai đối với điều kiện an toàn kỹ thuật của xe ô tô biển số 61H- 046.27 kết luận: Xe ô tô biển số 61H - 046.27 tại thời điểm giám định đảm bảo an toàn kỹ thuật (trừ các chi tiết hư hỏng do tai nạn giao thông gây ra) (Bút lục số: 28-29).

Qua định giá, xác định giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số 61H-046.27 là 5.750.000 (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng.

Vật chứng vụ án:

- Đối với xe ô tô biển số 61H - 046.27, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh thuộc sở hữu của Công ty cho thuê tài chính TNHH MTV Quốc tế Chailease (địa chỉ: Số 37 đường T, phường B, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh). Ngày 14/3/2022, Công ty cho thuê tài chính TNHH MTV Quốc tế Chailease đã ủy quyền cho Công ty TNHH MTV Phú Mai (địa chỉ: Số 59 đường Đ, Khu phố T, phường H, thành phố A, tỉnh B) do bà Lê H (sinh năm 1989; trú tại số 85 đường Đ, Khu phố T, phường H, thành phố A, tỉnh B) là người đại diện nhận lại xe ô trên. Sau khi nhận lại tài sản thì bà H không có ý kiến gì.

- Đối với xe mô tô biển số 81B1 - 767.23 là tài sản của anh Phan T và chị Lê Thị Th (sinh năm 1990), nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại cho anh Trí.

Về dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Nguyễn T đã bồi thường số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng cho bị hại Phan T. Bị hại T sau khi nhận bồi thường thì không có yêu cầu gì thêm.

Tại cáo trạng số: 199/CT- VKS ngày 16/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn T và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh M giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về dân sự: Tại phiên tòa, bị hại là anh Phan T không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về dân sự, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:

“ Bị cáo thấy rất ân hận vì đã bất cẩn trong khi tham gia giao thông dẫn đến gây ra vụ tai nạn trên. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn T phạm tội như sau: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14/3/2022, Nguyễn T điều khiển xe ô tô biển số 61H-046.27 chở bưu phẩm lưu thông từ trong kho hàng Viettel Post ra đường H để đi về hướng đường Tvới tốc độ khoảng 8km/h. T có bật đèn báo rẽ bên phải rồi điều khiển xe ô tô chạy từ từ ra đường H thì thấy xe mô tô biển số 81B1- 767.23 do anh Phan T điều khiển đang lưu thông bên phần đường bên phải đường H, hướng từ Ngã tư Y đi về đường T, cách xe ô tô biển số 61H-046.27 do T điều khiển khoảng 30 mét đến 40 mét, nhưng T không dừng lại mà tiếp tục điều khiển xe ô tô ra đường H nên đã tông vào xe mô tô do anh T điều khiển, gây hậu quả làm anh T bị thương với tỷ lệ tổn thương phần trăm cơ thể là 63 %.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy rằng: khi bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ đã không đảm bảo nguyên tắc an toàn giao thông, điều khiển xe ô tô chuyển hướng không đúng quy định, không chú ý quan sát nên đã gây ra vụ tai nạn giao thông. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây thiệt hại đến sức khoẻ của công dân, gây mất trật tự, trị an xã hội. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đã làm cho bị hại tổn hại 63% sức khoẻ . Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố.

Do vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường về dân sự cho bị hại và bị hại cũng đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Bị hại cũng có phần lỗi là điều khiển phương tiện tham gia giao thông trong tình trạng đã sử dụng bia rượu và nồng độ cồn vượt quá mức cho phép. Tại phiên tòa, bị hại xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, mà áp dụng hình phạt tù, cho hưởng án treo thấy cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

Về bồi thường dân sự: tại phiên toà hôm nay, bị hại T không có yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị H và chị Th cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Về tội danh và hình phạt

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn T 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án (12/12/2022).

Giao bị cáo Nguyễn T cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh M giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử buộc bị cáo Nguyễn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ