vanban.org

Bản án 189/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố b cáo Trần Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[2] Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; T ch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 1902/2020 có chữ k niêm phong của giám đ nh viên và cán bộ điều tra. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh T mua bán TPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố b cáo Trần Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 189/2021/HSST
Ngày 17/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Th u n an

Các Hội thẩm tham gia phiên t a: 1. Bà Phan Th u n Hương

2. Bà Nguyễn Phước Trinh

Thư ký T a án ghi biên bản phiên t a: Ông m Tấn Đài – Thư k Tòa án nh n d n huyện Củ Chi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2021 tại Tòa án nh n d n huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ l số: 118/2021/HSST ngày 11 tháng 5 năm 2021; theo quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 144/2021/QĐ ST-HS ngày 21/6/2021, quyết đ nh hoãn phiên tòa số số 44/2021/HSST-QĐ ngày 08/7/2021 và quyết đ nh hoãn phiên tòa số số 70/2021/HSST-QĐ ngày 19/10/2021 đối với b cáo:

Họ và tên Trần Minh T, sinh năm 1990; Giới tính Nam; Nơi đăng k hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn 07/12; Nghề nghiệp Không; Con ông: Trần Văn H (chết) và bà Phạm Th Ngọc L; Anh em ruột có 05 người kể cả b cáo; B cáo chưa có vợ.

Tiền án: Không;

Tiền sự Theo quyết đ nh số 358/QĐ-TA, ngày 16/11/2018, b Tòa án nh n d n huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử l hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng, đến ngày 29/8/2020 đã chấp hành xong.

Nhân thân: Theo bản án số 97/2016/HSST ngày 26/3/2016, b Tòa án nh n d n th xã T, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, đến ngày 11/02/2018 đã chấp hành xong hình phạt.

B cáo b tạm giữ chuyển tạm giam t ngày 30/10/2020 đến nay, b cáo hiện có m t tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Th Ngọc , sinh năm 1959; Đ a chỉ Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (có m t).

- Người làm chứng: 1/ Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 2002; Đ a chỉ Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng m t).

2/ Ông Danh Tấn , sinh năm 2000; Đ a chỉ Tổ 11, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng m t).

3/ Ông Đ ng Tấn P, sinh năm 2000; Đ a chỉ Tổ 10, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng m t).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau

Trần Minh T là đối tượng nghiện chất ma túy đã t ng b đưa đi cai nghiện bắt buộc và không có nghề nghiệp ổn đ nh, nên t ngày 29/10/2020, T bắt đầu nãy sinh đ nh mua ma túy về sử dụng cho bản th n và bán lại cho người khác để có tiền lời tiêu xài. Trần Minh T đã sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0707508335 để liên lạc thỏa thuận việc mua bán chất ma túy. Vào ngày 29/10/2020, T liên hệ mua ma túy của tên Út T (không rõ lai l ch), có số điện thoại 0399192387 với số tiền 2.000.000đ; đ a điểm giao ma túy trước nhà thờ T n Thạnh Đông, thuộc ấp 1, xã T, huyện C.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn K, sinh năm 2002 (trú tại ấp T, xã T, huyện C) gọi điện thoại cho T để hỏi mua 200.000đ ma túy; T đồng và hẹn đ a điểm giao nhận gần nhà của T tại ấp T, xã T, huyện C. Đến điểm hẹn, T giao ma túy cho K, còn K giao cho T 190.000đ, thiếu lại 10.000đ.

Nguyễn Văn K khai: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 30/10/2020, K tiếp tục gọi điện hỏi mua ma túy, T đồng bán và hẹn chỗ giao ma túy nhưng khi K v a đến chỗ nhận thì thấy lực lượng công an bắt T nên K bỏ trốn. Tại biên bản ghi lời khai ngày 30/10/2020, Biên bản hỏi cung b can ngày 05/11/2020, b cáo T cũng th a nhận Khi K gọi hỏi mua lần 2 gói ma túy 400.000đ, b cáo đồng , hẹn chỗ giao ma túy cho K, khi đang đứng đợi K giao ma túy thì công bắt quả tang. Tuy nhiên sau đó, b cáo T thay đổi lời khai: K có gọi điện hỏi mua ma túy nhưng b cáo không đồng bán cho K nữa do K còn nợ tiền.

Đến khoảng 00 giờ 40 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 52 7-9468 đến trước cửa nhà số 85, đường Bàu Tr m, thuộc ấp Thạnh An, xã Trung An, huyện Củ Chi thì b lực lượng Công an tuần tra phát hiện bắt quả tang đang tàng trữ 02 gói ny long chứa chất ma túy. Trong quá trính tố tụng và tại phiên Tòa, b cáo T th a nhận hành vi tàng trữ 02 gói nylong chứa ma túy trên nhằm mục đích để sử dụng cho bản th n và bán lại cho các con nghiện khi họ có nhu cầu để b cáo có tiền lời tiêu xài, sử dụng ma túy cho bản th n.

Vật chứng thu giữ gồm

- 01 gói nylon được niêm phong mang số vụ 1902/2020 có của giám đ nh viên và cán bộ điều tra;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, số Imei 359365039194778;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc, số Imei 354204073976169;

- Tiền Ng n hàng nhà nước Việt Nam 3.400.000đ;

- 01 xe mô tô biển số 52L7-9468, số khung VH1100102004426, số máy LC152FMH02004426.

Tại kết quả giám đ nh số 1902/K GĐ-H ngày 06/11/2020 của Phòng k thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận Tinh thể không màu chứa trong gói 02 nylon được niêm phong bên ngoài có dấu v n tay, chữ k nghi tên Trần Minh T và hình dấu của Công an xã Trung An, huyện Củ Chi gởi đến giám đ nh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,3682g, loại Methamphetamine;

Tại cơ quan điều tra và tại phiên Tòa hôm nay, b cáo Trần Minh T đã th a nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố.

Tại bản cáo trạng số 125/CTr/VKS-HS ngày 11/5/2021 của Viện kiểm sát nh n d n huyện Củ Chi đã truy tố Trần Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017) (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Củ Chi vẫn giữ nguyên quyết đ nh truy tố b cáo theo như bản cáo trạng và đề ngh Hội đồng xét xử Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017); xử phạt Trần Minh T t 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.

Về xử l vật chứng, đề ngh

- T ch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 1902/2020 có chữ k niêm phong của giám đ nh viên và cán bộ điều tra.

- T ch thu sung công qu nhà nước số tiền 190.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc.

- Đề ngh trả lại b cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh và tiền Ng n hàng nhà nước Việt Nam là 3.210.000đ.

Tại phiên Tòa, b cáo Trần Minh T không có kiến tranh luận và b cáo nói lời nói sau cùng là xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt tù để b cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên,Viện kiểm sát nh n d n huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, b cáo không có kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng.

Tại phiên tòa b cáo Trần Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. ời khai nhận tội của b cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 30/10/2020, tại cửa nhà số 85, đường Bàu Tr m, thuộc ấp Thạnh An, xã Trung An, huyện Củ Chi; b cáo T b phát hiện tàng trữ ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,3682g, loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác khi các con nghiện có nhu cầu gọi mua; hành vi của b cáo đã đủ cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy đ nh của pháp luật. Ngoài ra, trước đó vào lúc 23 giờ 30 phút, b cáo đã bán ma túy cho Nguyễn Văn K 01 lần, với giá 200.000đ (nhưng chỉ nhận 190.000đ của K, K nợ lại 10.000đ). Bằng hành vi trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của b cáo Trần Minh T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy đ nh tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2017). Viện Kiểm sát nh n d n huyện Củ Chi truy tố b cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy đ nh của pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.

Ma túy là chất g y nghiện, khi sử dụng vào cơ thể sẽ g y ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người nên Nhà nước có chính sách quản l độc quyền và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán chất ma tu và chế phẩm ma tu . B cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, b cáo nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là b pháp luật nghiêm cấm nhưng vì bản th n sử dụng chất ma túy, vì mục đích lợi nhuận mong muốn có tiền để sử dụng chất ma túy mà vi phạm pháp luật.

Hành vi của các b cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã không những đã trực tiếp x m hại đến chính sách quản l độc quyền của nhà nước về chất ma túy mà còn g y mất trật tự an toàn xã hội tại đ a phương. ét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của b cáo nghĩ cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ng a chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cần xem xét đến nh n th n, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có mức hình phạt phù hợp.

[4 Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, b cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho các b cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5 Về nh n th n Ngày 16/11/2018, b Tòa án nh n d n huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử l hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng, đến ngày 29/8/2020 đã chấp hành xong. Ngày 26/3/2016, b Tòa án nh n d n th xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, đến ngày 11/02/2018 đã chấp hành xong hình phạt.

[6 Về hình phạt bổ sung theo quy đ nh tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự; xét thấy b cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với b cáo là phù hợp.

[7 Về xử l vật chứng trong vụ án

- Đối với 01 gói được niêm phong mang số vụ 1902/2020, có chữ k của giám đ nh viên và cán bộ điều tra; Hội đồng xét xử quyết đ nh t ch thu tiêu hủy theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với chiếc xe gắn máy biển số 52 7-9468, số khung VH1100102004426, số máy C152FMH02004426, qua xác minh do bà Hàng Trần Thanh P đang đứng tên đăng k sở hữu và bà P đã bán lại cho người khác. Bà Phạm Th Ngọc (mẹ b cáo) đã mua lại chiếc xe trên làm phương tiện đi bán vé số hàng ngày và hiện đang giữ bản chính giấy tờ xe. Hiện hoàn cảnh bà đang khó khăn nên yêu cầu được nhận lại chiếc xe trên làm phương tiện mưu sinh hàng ngày; Hội đồng xét xử quyết đ nh trả lại cho bà L chiếc xe trên là phù hợp.

- Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, số imeil 359365039194778 và tiền Ng n hàng nhà nước Việt Nam là 3.210.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội; Hội đồng xét xử quyết đ nh trả lại cho b cáo theo quy đ nh tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với: Số tiền Ng n hàng nhà nước Việt Nam là 190.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc, số imeil 354204073976169; là công cụ phương tiện b cáo thực hiện hành vi phạm tội và tiền do b cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có; Hội đồng xét xử quyết đ nh t ch thu nộp ng n sách nhà nước.

[8 Đối với đối tượng Út T có hành vi bán chất ma túy cho b cáo; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi tiếp tục xác minh điều tra xử l sau; Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn K, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra đã bàn giao hồ sơ, tang vật có liên quan cho công an xã Trung an, huyện Củ Chi xử l theo thẩm quyền; Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Căn cứ uật phí và ệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cần buộc b cáo Tài phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố b cáo Trần Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2017); ử phạt b cáo Trần Minh T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính t ngày 30/10/2020.

[2] Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- T ch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 1902/2020 có chữ k niêm phong của giám đ nh viên và cán bộ điều tra.

- Trả lại cho b cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, số imeil 359365039194778 và tiền Ng n hàng nhà nước Việt Nam 3.210.000đ (ba triệu hai trăm mười nghìn đồng).

- T ch thu nộp ng n sách nhà nước Số tiền Ng n hàng nhà nước Việt Nam là 190.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc, số imeil 354204073976169.

- Trả lại cho bà Phạm Th Ngọc : 01 chiếc xe gắn máy biển số 52 7-9468, số khung VH1100102004426, số máy C152FMH02004426.

(Các vật chứng trên được liệt kê theo Phiếu nhập kho vật chứng số 22/PNK ngày 27/01/2021 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi).

[3] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng uật phí và ệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc các b cáo Trần Minh T phải ch u 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: B cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Th Ngọc L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ