vanban.org

Bản án 189/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 26/05/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2021/HS-ST, ngày 15-9-2021 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N.

1. Xử phạt bị cáo Lý T (tên gọi khác: Tài V) 01(một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam gi . 2. Giao bị cáo ý T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh N để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị k t án có trách nhiệm phối h p với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh N trong việc gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2021/HS-ST, ngày 15-9-2021 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2021/HS-PT
Ngày: 17-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu.

Các Thẩm phán:

Bà Dương Thúy Hằng;

Bà Nguyễn Thị An Tiên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm đối với bị cáo Lý T (Tài V), do có kháng cáo của bị cáo Lý T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2021/HS-ST, ngày 15 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo

Lý T (tên gọi khác: Tài V), sinh năm 1970 tại tỉnh N; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: khu phố Đ, phường T, thành phố N, tỉnh N; nghề nghiệp: bán vé số; trình độ học vấn: không bi t ch ; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao đài; con ông ý K, sinh năm 1930 (đã ch t) và bà Nguyễn Thị , sinh năm 1933 (đã ch t); v , con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: 01 tiền sự, bị Công an phường T, thành phố N, tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 216/QĐ-XPVPHC ngày 22/7/2020). Mới nộp phạt ngày 15-12-2021, chưa h t thời hạn đư c coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Về nhân thân: tại Bản án số 181/STHS ngày 03/12/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh N và Bản án số 459/HSPT ngày 14/04/2002 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố C xử phạt bị cáo ý T 05 năm t về tội “Cướp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt t ngày 10-8-2005; hiện nay đã chấp hành xong bản án và đã đư c xóa án tích.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ ngày 14-12-2020, tại quán Cà phê (không có tên) thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố N, tỉnh N do bà Lý Thị B, sinh năm 1953, làm chủ. Tại đây Công an phường T bắt quả tang Lý T, Trương Văn A, sinh năm 1977; Ha Na P, sinh năm 1983, c ng trú tại khu phố Đ, phường T, thành phố N, tỉnh N; Nguyễn Hoàng L, sinh năm 2006 trú tại tổ 1, khu phố Sân C, phường H, thị xã T, tỉnh N đang đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài ti n lên. Tang vật thu gi gồm 01 bộ bài tây loại 52 lá và tổng số tiền 2.205.000 đồng.

Quá trình điều tra chứng minh đư c: vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/12/2020 Lý T cùng với A, P, L đ n quán Cà phê (không có tên) do bà ý Thị B làm chủ để đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài ti n lên, quy định thắng nhất, thua nhất là 10.000 đồng; thắng nhì, thua nhì là 5.000 đồng. Đ n 12 giờ c ng ngày thì bị Công an phường T, thành phố N, tỉnh N kiểm tra thu gi tang vật c ng tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 2.205.000 đồng. Trong đó, thu gi số tiền của T 210.000 đồng, L 135.000 đồng, A 925.000 đồng và P 935.000 đồng.

Qua xác minh Lý T đã bị Công an phường T, thành phố N xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” theo Quy t định số 216/QĐ-XPVPHC ngày 22/7/2020; chưa h t thời hạn đư c coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên Công an phường T đã chuyển hồ sơ đ n Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, tỉnh Tây Ninh xử lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2021/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. ử phạt bị cáo Lý T 06 (sáu) tháng t về tội“Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 24-9-2021, bị cáo T kháng cáo xin đư c hưởng án treo.

Tại phiên tòa: Bị cáo T bổ sung thêm nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lý T mức án 06 tháng t về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin đư c hưởng án treo, nhưng không cung cấp đư c tình ti t giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý T, gi nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Lý Tkhông tranh luận.

ời nói sau c ng của bị cáo Lý T: Bị cáo bi t hành vi của bị cáo là sai trái, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo đư c hưởng án treo để bị cáo đi làm ki m tiền nuôi anh ruột của bị cáo đang bị bệnh tai bi n.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Lý T bị Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N xét xử vào ngày 15-9-2021; ngày 24-9-2021, bị cáo có đơn kháng cáo xin hưởng án treo; tại phiên tòa bị cáo bổ sung nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo h p lệ, ph h p với quy định tại Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14-12-2020, tại quán Cà phê (không có tên) thuộc khu phố N, phường T, thành phố N, tỉnh N do bà ý Thị B làm chủ, Lý T c ng với Trương Văn A, Ha Na P, Nguyễn Hoàng L thực hành vi đánh bạc trái phép thắng, thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài ti n lên. Đ n khoảng 12 giờ c ng ngày bị Công an phường T, thành phố N bắt quả tang, thu gi 01 bộ bài Tây 52 lá đã qua sử dụng và tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 2.205.000 đồng. Bị cáo ý T có 01 tiền sự, bị Công an phường T, thành phố N, tỉnh N xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” (theo Quy t định số 216/QĐ-PVPHC ngày 22/7/2020 xử phạt số tiền 1.500.000 đồng), bị cáo chưa nộp phạt, chưa h t thời hạn đư c coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo ý T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực ti p đ n trật tự công cộng, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đ n tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần có hình phạt tương xứng cho bị cáo để đảm bảo điều kiện răn đe, giáo dục bị cáo và đồng thời để giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.

ét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin đư c hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo c ng với 03 người (A, N, L) tham gia đánh bạc với nhau bằng hình thức đánh bài ti n lên, mức độ thắng thua nhỏ (thua nhất, thắng nhất là 10.000 đồng; thua nhì, thắng nhì là 5.000 đồng); tổng số tiền thu trên chi u bạc và trên người các con bạc là 2.205.000 đồng, trong đó của bị cáo là 210.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xem xét bị cáo không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự; có tình ti t giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xử phạt bị cáo mức án 06 tháng t là có phần nghiêm khắc.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo bổ sung giấy xác nhận của địa phương, bị cáo là dân lao động nghèo, hằng ngày đi bán vé số dạo, phải phụ nuôi dưỡng người anh ruột bị bệnh tai bi n; bị cáo bổ sung thêm chứng từ nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo bản án sơ thẩm đã tuyên. Đây là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

ét thấy, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo tham gia đánh bạc mức độ thắng, thua nhỏ; số tiền bị cáo d ng vào việc đánh bạc chỉ có 210.000 đồng; bị cáo có nhiều tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần xử phạt t , chỉ cần xử bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam gi cũng đảm bảo đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và đồng thời cũng không ảnh hưởng xấu đ n an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo làm nghề bán vé số, thu nhập không ổn định, nên miễn khấu trừ thu nhập hằng tháng cho bị cáo.

Từ nh ng phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo ý T; không chấp nhận đề nghị của kiểm sát viên, sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do kháng cáo đư c chấp nhận, nên bị cáo Lý T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quy t định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2021/HS-ST, ngày 15-9-2021 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

1.1. Xử phạt bị cáo Lý T (tên gọi khác: Tài V) 01(một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam gi .

1.2. Giao bị cáo ý T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh N để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị k t án có trách nhiệm phối h p với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh N trong việc giám sát, giáo dục người đó.

1.3. Thời hạn cải tạo không giam gi đư c tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh N đư c giao giám sát, giáo dục người bị k t án nhận đư c quy t định thi hành án và bản sao bản án.

1.4. Trong trường h p người bị k t án đang chấp hành hình phạt chuyển đi nơi khác, thì Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh N có trách nhiệm thông báo ngay cho Tòa án đã ra quy t định thi hành án kèm theo hồ sơ của người đó để Tòa án làm thủ tục cần thi t giao cho cơ quan, tổ chức nơi người bị k t án chuyển đ n ti p tục giám sát, giáo dục.

1.5. Người bị k t án cải tạo không giam gi phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại uật Thi hành án hình sự.

1.6. Miễn việc khấu trừ thu nhập hằng tháng cho bị cáo ý T.

2. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lý T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3- Các quy t định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

4- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM -Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1);

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh TN;

- Sở tư pháp tỉnh TN

- Phòng KTNV TAND tỉnh TN

- Phòng PV 06 CA tỉnh TN;

(Đã ký)

- TAND thành phố N;

- CC THADS thành phố N;

- VKSND thành phố N;

- Công an thành phố N;

Võ Văn Ngầu

- Bị cáo;

- Nh ng người TGTT khác;

- Tòa Hình sự;

- ưu hồ sơ;

Cỡ chữ