- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giải quyết ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy K.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 189/2021/HNGĐ-ST Ngày: 08-12-2021 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thu Hảo.
2. Ông Nguyễn Văn Trương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2021 về tranh chấp “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1997 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp XT, xã BT, huyện GCT, tỉnh Tiền Giang;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1993 (có mặt);
Địa chỉ: Số 151A, khu phố N, Phường B, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN :
* Theo đơn xin ly hôn và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy K trình bày: Chị và anh D tự tìm hiểu nhau khoảng 03 năm thì tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 25/11/2019. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 3/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là về tiền bạc, không chung sống được với gia đình chồng, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh D không quan tâm đến chị, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị và anh D đã ly thân từ tháng 4/2021 đến nay. Hiện tình cảm không còn và không thể tiếp tục chung sống, chị yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng D.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Theo bản tự khai và trong quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Hoàng D trình bày : Anh và chị K có quen biết và tìm hiểu nhau khoảng 02 năm thì tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 25/11/2019. Quá trình chung sống hạnh phúc đến khoảng đấu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn về vấn đề nơi ở. Hiện tại anh còn tình cảm với chị K nên anh không đồng ý ly hôn. Anh muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm. Anh và chị K đã ly thân với nhau từ tháng 4/2021 đến nay.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thúy K có đơn đề nghị giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Hoàng D có địa chỉ: Số 151A, khu phố N, Phường B, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Nguyễn Hoàng D kết hôn với nhau được Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã GC cấp giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 25/11/2019 là hôn nhân hợp pháp. Nay chị K yêu cầu ly hôn cần được xem xét giải quyết theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo chị K trình bày, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa anh, chị là do không chung sống được với gia đình chồng, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh D không quan tâm đến chị, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Hiện tại chị K không còn tình cảm với anh D, nên yêu cầu được ly hôn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, một bên đã không còn tình cảm mà kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai anh, chị. Theo anh D xác định do hiện tại còn tình cảm với chị K nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, chị K và anh D đã ly thân với nhau từ tháng 4/2021 đến nay, thời gian trên cũng đủ để anh, chị suy nghĩ lại cho tình cảm vợ chồng nhưng cả hai cũng không tìm cho mình một biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã động viên, hòa giải tạo điều kiện để anh, chị hàn gắn và tại phiên tòa chị K vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh D. Điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị K và anh D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị K.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Theo chị K và anh D trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy K là nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH :
- Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy K.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy K được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng D.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy K phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0019461 ngày 02/7/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã GC. Như vậy, chị Nguyễn Thị Thúy K đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngay tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TXGC; - Chi cục THADS TXGC; - UBND Phường B, TXGC; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký và đóng dấu) Võ Thị Thu Thúy |