- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Ngô Thái T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm g Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 189/2019/HS-ST Ngày: 12 – 8 – 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Văn Đức.
2/ Bà Lê Thị Thiện.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 06 và 12 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 173/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 174/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Ngô Thái T, sinh năm 1988 tại tỉnh G; nơi cƣ trú: Khóm V, phƣờng N, thành phố C, tỉnh G; nơi tạm trú: Khu phố B, phƣờng C, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thái M (đã chết) và bà Lâm Thị Mai T, sinh năm 1966; bị cáo có vợ tên Trần Thị H, sinh năm 1992; có 03 ngƣời con; tiền án, tiền sự: Không có;
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/02/2019 đến ngày 07/3/2019 đƣợc trả tự do. Bị bắt, tạm giam ngày 09/4/2019 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nghiêm Thiên V1, sinh năm 2000; nơi cƣ trú: Ấp C, xã L, huyện N, tỉnh B. Vắng mặt.
2/ Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị E, sinh năm 1962; cùng nơi cƣ trú: Khu phố H, phƣờng V, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; cùng tạm trú: Xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dƣơng. Do ông P đại diện có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
- Ngƣời làm chứng: Ông Trƣơng Văn V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 26/02/2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã T phối hợp với Công an phƣờng A tuần tra đến đoạn đƣờng D, khu dân cƣ V, khu phố D, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện Trƣơng Văn V đang ngồi xe mô tô biển số 61L6-4399 và Ngô Thái T đang đứng trên vỉa hè cạnh V có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong túi quần phía trƣớc bên trái của Ngô Thái T đang mặc có 01 (một) túi nylon miệng kéo dính bên trong có chứa 26 viên nén dạng tròn màu nâu (nghi vấn ma túy tổng hợp) nên lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra T khai nhận: T là đối tƣợng nghiện ma túy và quen biết với đối tƣợng Q (chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch), Q nói sẽ cho T ma túy dạng thuốc lắc nên khoảng 02 giờ 00 phút ngày 26/02/2019, T nhờ V chở T đến khu vực vòng xoay A để gặp Q, tại đây Q đƣa cho T 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa 26 viên nén dạng tròn màu nâu (thuốc lắc). Sau đó, T bỏ túi nylon trên vào bên trong túi quần phía trƣớc bên trái đang mặc rồi lên xe cho V điều khiển chở về phòng trọ. Khi đi đến khu vực đƣờng D, khu dân cƣ V, khu phố D, phƣờng A thì bị lực lƣợng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ nhƣ trên. Mục đích Q cho T số ma túy để bán lấy tiền tiêu xài nhƣng chƣa bán đƣợc cho ai thì bị bắt giữ.
Vật chứng thu giữ gồm 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong có chứa 26 viên nén dạng tròn màu nâu (nghi vấn là ma túy tổng hợp); 01 xe mô tô biển số 61L6-4399.
Ngày 05/3/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có văn bản số 64/MT-PC09 về việc trả lời tiếp nhận mẫu – chuyển mẫu giám định với nội dung:
- Khối lƣợng/trọng lƣợng: 26 (hai mƣơi sáu) viên nén tròn màu nâu là 10,6008 gam và hoàn trả mẫu vật với khối lƣợng/trọng lƣợng 8,6157 gam.
- Tìm không thấy các tiền chất và các chất ma túy nằm trong danh mục quản lý của chính phủ.
- Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T chuyển mẫu vật đến Phân viện khoa học hình sự - Bộ Công an để giám định.
Kết luận giám định số 1627/C09B ngày 20/3/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố H xác định: 21 viên nén tròn màu nâu có vạch chia và logo không rõ đƣợc niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Về khối lƣợng đã đƣợc Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng trả lời trong Công văn số 64/MT-PC09 ngày 05/3/2019 (Khối lƣợng 26 viên nén tròn màu nâu là 10,6008 gam).
Cáo trạng số 189/CT-VKS-TA ngày 08/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Ngô Thái T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Ngô Thái T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố H ghi số vụ 1627/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật chứng trong vụ án.
Giao lại 01 xe mô tô hai bánh, kiểu dáng Sirius, nhãn hiệu YMT, số loại 110V, dung tích xi lanh 107cm3, biển kiểm soát 61L6-4399, số khung: RMHWCH2UM7TS11414, số máy: RMHYX152FMH-B*401414* cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Trƣơng Văn V: Quá trình điều tra xác định việc T cất giấu ma túy trong ngƣời thì V không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với đối tƣợng tên Q là ngƣời đƣa ma túy cho T, quá trình điều tra T khai Q sinh sống ở khu vực phƣờng A, thị xã T, khoảng 30 tuổi, nói giọng miền Nam, cao khoảng 1m70, đầu trọc, nƣớc da ngăm đen. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an phƣờng A nhƣng do thông tin lai lịch mà T cung cấp không đầy đủ nên không có cơ sở để xác minh. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố, bị cáo đã ăn năn, hối cải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Thái T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố trƣớc Tòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 26/02/2019, tại đƣờng D, khu dân cƣ V, khu phố D, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng bị cáo Ngô Thái T có hành vi tàng trữ trong túi quần phía trƣớc bên trái 01 (một) túi nylon miệng kéo dính bên trong có chứa 26 viên nén dạng tròn màu nâu (nghi vấn ma túy tổng hợp). Qua giám định, xác định 26 viên nén dạng tròn màu nâu là ma túy loại Ketamine, có khối lƣợng 10,6008 gam.
Bị cáo T khai nhận số ma túy nêu trên là do đối tƣợng tên Q (hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, địa chỉ) cho bị cáo vào ngày 26/02/2019, mục đích để bị cáo bán lấy tiền tiêu xài nhƣng chƣa bán đƣợc cho ai thì bị bắt giữ. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo, theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo chỉ cần xét xử bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo Ngô Thái T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm g Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật Hình sự nhƣng bị cáo vẫn cố ý cất giấu ma túy trong ngƣời nhằm mục đích bán cho ngƣời khác, hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma tuý; thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên áp dụng Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nh hình phạt cho bị cáo.
Hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên đƣợc chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi số vụ 1627/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật chứng trong vụ án cần tịch thu, tiêu hủy;
- Đối với xe mô tô biển số 61L6-4399, quá trình điều tra xác định do ông Nguyễn Hoàng H – sinh năm 1985, HKTT: Khu phố H, phƣờng L, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đứng tên sở hữu. Tuy nhiên ông H đã chết vào năm 2014. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Hoàng P, bà Nguyễn Thị E (là cha, m ruột của ông H), ông P xác định H chƣa có vợ con, sau khi H chết thì ông P đã cho chiếc xe nêu trên cùng giấy đăng ký xe cho một ngƣời bạn của H nhƣng ông P không nhớ tên và địa chỉ của ngƣời này, ông P và bà E không yêu cầu gì đối với chiếc xe này.
Quá trình điều tra Trƣơng Văn V khai nhận mƣợn chiếc xe trên của bạn là Nghiêm Thiên V1 để đi công việc. Ông V1 trình bày vào khoảng năm 2017, ông V1 mua xe trên của một ngƣời đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 3.000.000 đồng nhƣng không làm giấy tờ mua bán mà chỉ giao Giấy chứng nhận đăng ký xe. Tuy nhiên, ông V1 đã làm mất Giấy chứng nhận đăng ký xe bản gốc, chỉ còn giữ bản phô tô mang tên Nguyễn Hoàng H Ngày 26/02/2019, ông V1 cho V mƣợn xe mô tô trên để đi công việc sau đó bị tạm giữ cho đến nay. Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định số khung, số máy nguyên thủy của xe mô tô biển số 61L6-4399 xác định: xe mô tô có số khung RMHWCH2UM7TS11414, số máy: RMHYX152FMH-B*401414* không đổi. Tiến hành tra cứu cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng tại Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng và Bộ Công an xác định xe mô tô biển số 61L6-4399, số khung RMHWCH2UM7TS11414, số máy: RMHYX152FMH-B*401414* không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm chủ sở hữu xe mô tô biển số 61L6-4399 nhƣng đến nay ngoài ông Nghiêm Thiên V1 không có ai đến liên hệ làm việc.
Xét thấy, từ khi khởi tố cho đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng chƣa xác định đƣợc chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô biển số 61L6-4399, chƣa làm rõ chứng cứ có giá trị chứng minh để xử lý vật chứng theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy cần giao lại chiếc xe này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tƣợng Q đƣa ma túy cho bị cáo T hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên sẽ xử lý ở một vụ án khác khi có căn cứ.
Đối với Trƣơng Văn V: Quá trình điều tra xác định việc T cất giấu ma túy trong ngƣời thì V không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm g Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Ngô Thái T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Ngô Thái T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2019 (đƣợc trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 26/02/2019 đến ngày 07/3/2019.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố H ghi số vụ 1627/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- Giao lại 01 xe mô tô hai bánh, kiểu dáng Sirius, nhãn hiệu YMT, số loại 110V, dung tích xi lanh 107cm3, biển kiểm soát 61L6-4399, số khung: RMHWCH2UM7TS11414, số máy: RMHYX152FMH-B*401414* cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/5/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã T, tỉnh Bình Dương và Chi cục thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí: Bị cáo Ngô Thái T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã T; - Chi cục THADS thị xã T; - Cơ quan CSĐT Công an thị xã T; - Cơ quan THAHS Công an thị xã T; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; những ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ánh |