- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Huyền T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Huyền T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số:189/2019/HS-ST Ngày: 08/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Nguyệt Ánh
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
Ông Đoàn Xuân Miễn
- Thƣ ký phiên toà: Ông Lê Quang Đạo - Thƣ ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 08/10/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 193/2019/HSST ngày 20 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 197/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: MAI HUYỀN T – sinh năm:1981; Tên thƣờng gọi khác: không; HKTT: phƣờng T, quận H, Hà Nội ; Nơi ở: lang thang; Nghề nghiệp: không ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 8/12; Con ông: Mai Hiển N; Con bà: Trịnh Thị T ; Nhân thân; 03 tiền sự, 01 tiền án gồm: Tiền án: Ngày 22/1/2008 TAND quận H xử 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tiền sự: Năm 2005, 2009 và 2017: tập trung cai nghiện bắt buộc; Danh chỉ bản số: 0240 ngày 07/7/2019 do công an quận Hai Bà Trƣng cấp; Bị cáo bị bắt ngày 17/6/2019.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 21h30’ ngày 16/06/2019, Mai Huyền T đang đi xe máy nhãn hiệu Piagio BKS 30Z3- 5994 đi lang thang tại khu vực phố Lê Duẩn - phƣờng Nguyễn Du, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội thì có Dũng là bạn xã hội gọi điện thoại cho T bảo T mua ma túy về cùng sử dụng, T đồng ý. Sau đó, T gọi cho một ngƣời phụ nữ tên Hƣơng (không biết nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy đá, Hƣơng đồng ý. Khoảng 23h00 cùng ngày, T đi xe máy đến khu vực 132A phố Lê Duẩn,phƣờng Nguyễn Du, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội gặp và mua của Hƣơng 01 gói ma túy đá với giá 700.000 đồng. Sau đó, T cất ma túy mang về nhà. Khoảng 11h ngày 17/06/2019, khi T đi xe máy đứng đợi Dũng ở khu vực trƣớc số nhà 79 Phố Huế, phƣờng Ngô Thì Nhậm, Hai Bà Trƣng, Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phƣờng Nguyễn Du kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, T tự nguyện giao nộp 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng (T tự khai là ma túy mua về để sử dụng). Tổ công tác đƣa T cùng tang vật về trụ sở Công an để giải quyết.
Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Lenovo; 01 xe máy nhãn hiệu Piagio BKS 30Z3-5994.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trƣng đã ra quyết định trƣng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ của Mai Huyền T.Tại bản kết luận giám định số 3947/KLGĐ-PC09 ngày 24/06/2019 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lƣợng 0,957 gam.
Quá trình điều tra, Mai Huyền T khai nhận hành vi phạm tội nhƣ trên.
Đối với đối tƣợng tên Dũng sử dụng dùng số điện thoại 0822377*** gọi điện thoại cho T bảo T mua ma túy về cùng sử dụng, T khai không rõ nhân thân lai lịch của Dũng, gặp lại T không nhận ra đƣợc. Xác minh số điện thoại 0822377*** đăng ký thuê bao mang tên Nguyễn Trung H (SN 1994, trú tại: xã H, huyện T, Hà Nội). Anh H khai không đăng ký hay sử dụng số điện thoại trên, không quen ai là Mai Huyền T. Do vậy, cơ quan công an không có căn cứ xác minh xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Lenovo số Imei1: 867803024693151, Imei2: 867803024692286, lắp sim số: 0334960*** thu giữ của T, T dùng để liên lạc với Dũng mục đích hẹn mua ma túy về cùng sử dụng.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Piagio BKS 30Z3-5994, số khung: 2520000015084, số máy:15497. T khai chiếc xe trên T mƣợn của Tuấn là bạn xã hội vào ngày 15/6/2019 để đi lại. Khi T mƣợn xe, Tuấn không đƣa giấy tờ xe cho T. T không biết nhân thân, lai lịch của Tuấn, T liên lạc với Tuấn bằng chiếc điện thoại đã bị rơi mất. Việc T dùng xe để đi mua ma túy Tuấn không biết và không liên quan. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhƣng chƣa xác định đƣợc chủ sở hữu của chiếc xe trên. Vì vậy, ngày 9/9/2019, cơ quan điều tra đã ra quyết định tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe trên để xử lý sau.
Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải T xác định địa điểm và đối tƣợng đã bán ma túy. Kết quả T xác định đƣợc địa điểm mua ma túy nhƣng không xác định đƣợc đối tƣợng Hƣơng đã bán ma túy cho T nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý.
Tại cáo trạng số: 192/CT-VKS ngày 19/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Mai Huyền T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận tội nhƣ nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 17/6/2019, tại khu vực trƣớc cửa nhà số 79 phố Huế, phƣờng Ngô Thì Nhậm, Q. Hai Bà Trƣng, Hà Nội, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,957 gam Methamphetamine. Bị cáo nhận tội, xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ cáo trạng đã nêu là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Mai Huyền T với mức án từ 28 tháng đến 32 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,957 gam Methamphetamine, 01 điện thoại di động Lenovo thu giữ của bị cáo do bị cáo sử dụng hẹn mua ma túy với Dũng về sử dụng chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 17/6/2019 tại khu vực trƣớc số nhà 79 phố Huế, phƣờng Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội, Mai Huyền T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,957 gam Methamphetamine mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo có 01 tiền án đã đƣợc xóa về cùng loại tội và 03 tiền sự cai nghiện bắt buộc trong đó có 01 tiền sự năm 2017 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng nên chƣa hết thời hiệu. Chứng tỏ bị cáo đã đƣợc các cơ quan pháp luật giáo dục cải tạo nhƣng không chịu sửa chữa mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Tại phiên tòa hôm nay cũng nhƣ tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Về hình phạt:
- Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý ma túy của Nhà nƣớc ta, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng do nghiện vẫn cố tình phạm tội. Bị cáo phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: xét trong trƣờng hợp này bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền.
Về biện pháp tƣ pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tịch thu tiêu hủy 0,957 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo.
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Lenovo thu giữ của bị cáo do bị cáo sử dụng liên lạc với Dũng mua ma túy về sử dụng chung.
Đối với chiếc xe máy Piago BKS: 30Z3-5994, số khung: 2520000015084, số máy: 15497 thu giữ của bị cáo khi bị bắt. Bị cáo khai rõ là xe mƣợn của ngƣời tên Tuấn, không rõ họ tên, tuổi địa chỉ, số điện thoại liên lạc với Tuấn bị cáo để trong điện thoại đã bị rơi mất. Việc T dùng xe để đi mua ma túy Tuấn không biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhƣng chƣa xác định đƣợc chủ sở hữu của chiếc xe trên. Ngày 09/9/2019, cơ quan điều tra đã ra quyết định tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe trên để xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Mai Huyền T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Mai Huyền T 24 ( hai mươi bốn ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2019.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy đã niêm phong chứa 0,957 gam Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo.
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Lenovo số Imeil: 867803024693151, Imeil 2: 867803024692286
( Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 17 tháng 9 năm 2019, tang vật số 301/19 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội )
Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333; Điều 336; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điểm a khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| NƠI NHẬN : - Bị cáo - Viện kiểm sát Quận Hai Bà Trƣng - Công an Quận Hai Bà Trƣng - Chi cục THA dân sự Q. Hai Bà Trƣng - Lƣu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lại Nguyệt Ánh |