vanban.org

Bản án 189/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 28/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Lê Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Lê Văn G 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 10-3-2018. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 224/GĐKTHS. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28-5-2018) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Lê Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2018/HSST
Ngày: 28-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vương Thị Minh Tân

Bà Nguyễn Thị Yến

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 167/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2018/QĐ-HSST ngày 15-6-2018 đối với bị cáo:

Lê Văn G - sinh năm 1985 tại tỉnh Yên Bái; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 7, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Đội 5 Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn S và bà Đào Thị T; Có vợ và 02 con; Tiền án: Ngày 16-8-2016 Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 21-01-2016 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phúc thẩm tuyên miễn trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 10-3-2018 (có mặt).

Người làm chứng: ông Bùi Thái H, anh Nguyễn Văn T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 10-3-2018, tổ công tác Công an phường Văn Miếu, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực bờ đê sông Đào, thôn Vi Lương, xã Nam Phong, thành phố Nam Định phát hiện Lê Văn G đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Giang thả từ tay xuống đất 01 gói nhỏ giấy bạc màu trắng. Tổ công tác đã phát hiện thu giữ, mở kiểm tra bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (G khai là ma túy), tiến hành niêm phong gói ma túy trên đưa G về trụ sở Công an phường Văn Miếu, thành phố Nam Định lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định pháp luật

Bản kết luận giám định số 224/GĐKTHS ngày 13-3-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng thu giữ của Lê Văn G là chất ma túy, loại ma túy Heroine, khối lượng 0,135gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn G đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cụ thể như sau: Khoảng 07 giờ 50 phút ngày 10-3-2018, G đi bộ từ nhà trọ đến khu vực giáp sông Đào, thôn Vị Lương, xã Nam Phong, thành phố Nam Định, vào một nhà gần đó rồi cầm 50.000 đồng đưa qua ô cửa sổ để mua 01 gói Heroine, người trong nhà (không rõ lai lịch) đồng ý bán, nhận tiền rồi bỏ vào tay Giang 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng. G cầm gói Heroine về để sử dụng. Khi Giang đi được khoảng 30m thì bị phát hiện bắt giữ.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho G, tài liệu Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ kết luận, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Bản cáo trạng số 187/CT-VKSTPNĐ ngày 29-5-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Lê Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo từ 27 tháng đến 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 224/GĐKTH ngày 13-3-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 8 giờ ngày 10-3-2018 tại khu vực bờ đê sông Đào, thôn Vỵ Lương, xã Nam Phong, thành phố Nam Định, Lê Văn G đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,135gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm trừng trị, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm kiếm lời bất chính; Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo Lê Văn G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố Lê Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Lê Văn G 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 10-3-2018.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 224/GĐKTHS. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28-5-2018)

3. Án phí: Bị cáo Lê Văn G phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Văn G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự./.

Cỡ chữ