- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Tuyên bố: Mai Lưu Ngọc P
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 189/2018/HSST Ngày: 20/11/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Mạnh
2. Ông Nguyễn Đình Phúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.
Ngày 20 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 xét xử sơ thẩm
công khai vụ án hình sự thụ lý số: 156/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 835/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11
năm 2018 đối với bị cáo:
Mai Lưu Ngọc P, sinh ngày 31 tháng 8 năm 1978, tại Long An; nơi đăng ký
hộ khẩu thường trú: A6/18 ấp 2, Quốc lộ 50, xã X, huyện Y, Thành phố Hồ Chí
Minh; nơi đăng ký tạm trú: 779/25 tổ 43, ấp 1A, Quốc lộ 50, xã X, huyện Y, Thành
phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh;
con ông Mai Bá P và bà Lưu Thị T; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không;
bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/7/2018 tại nhà tạm giữ Công an Quận 1. (có
mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 25/7/2018, Mai Lưu Ngọc P đến quán Bar 030 số 8
đường Nam Quốc Cang, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 dự sinh nhật bạn và gặp
người thanh niên trước đây P đã mua ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên
Phi đã mua ma túy tổng hợp và 04 viên thuốc lắc của người thanh niên này với giá
2.400.000 đồng và P còn nhặt được 01 viên thuốc lắc màu cam trong quán rồi để
trong hộp kim loại in chữ Doublemint trong túi quần phía trước bên trái đang mặc. Đến khoảng 00 giờ 40 phút ngày 26/7/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 1 phối hợp cùng Công an Phường Phạm Ngũ Lão kiểm tra hành chính quán Bar 030. Khi đến khu vực bàn Vip 06, phát hiện Mai Lưu Ngọc P có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu P về Công an Phường Phạm Ngũ Lão và qua kiểm tra đã phát hiện trong túi quần phía trước bên trái P đang mặc có 01 hộp kim loại in chữ Doublemint đựng 02 gói nylon chứa tinh thể không màu và 05 viên nén Phi khai là ma túy nên tiến hành thu giữ vật chứng và lập biên bản xử lý. Tại cơ quan điều tra, Mai Lưu Ngọc P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Theo bản kết luận giám định số: 1300/KLGĐ-H ngày 01/8/2018 của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,1493g, loại Ketamine; 02 viên nén tròn màu xanh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,7015g, loại MDMA; 02 viên nén hình bông mai màu hồng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,7314g, loại MDMA; 01 viên nén màu cam là 0,4028g ma túy ở thể rắn, loại MDMA.
Bản cáo trạng số: 162/CT-VKSQ1 ngày 30/10/2018 của Viện kiểm sát
nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Mai Lưu Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh
tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, phạt tiền bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi vụ số 1300/2018/Q1 chứa chất
ma túy bên trong có 1,1493g, loại Ketamin và 1,8357g, loại MDMA (mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ công tác giám định); 01 bóp da hiệu Di Shark màu nâu.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei:
353807088849303 và số tiền 560.000 đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.
- Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân tên Mai Lưu Ngọc P, số:
080078000345.
Tại phiên tòa, bị cáo Mai Lưu Ngọc P đã khai nhận hành vi phạm tội như kết
luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời
sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời
khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu,
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản
ghi lời khai, biên bản hỏi cung, tờ tự khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết
luận giám định,… nên có căn cứ để kết luận bị cáo Mai Lưu Ngọc P đã có hành vi
tàng trữ trái phép chất ma túy, với khối lượng là 1,1493g ma túy ở thể rắn, loại
Ketamine và 1,8357g ma túy ở thể rắn, loại MDMA. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ
sở kết luận bị cáo Mai Lưu Ngọc Phi đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình
sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều
tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy
tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về
hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,
các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết
tâm cao. Bị cáo đủ nhận thức để biết rõ về tác hại của ma túy nhưng vì muốn thỏa
mãn với động cơ cá nhân của mình nên bất chấp xem thường pháp luật của Nhà
nước cố tình phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chế độ quản lý
độc quyền về các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã
hội là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nên cần có
mức án nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên
tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo bị bệnh rò rỉ dịch não tủy sau chấn thương sọ não. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình
sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp một khoản tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước.
Đối với người thanh niên không rõ lai lịch, là người bán ma túy cho Phi,
quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch, cơ quan điều tra Công an Quận 1 tiếp tục xác minh làm rõ có cơ sở xử lý sau.
Vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1300/2018/Q1 chứa chất ma
túy bên trong có 1,1493g, loại Ketamin và 1,8357g, loại MDMA (mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ công tác giám định); 01 (một) bóp da hiệu Di Shark màu nâu cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei:
353807088849303 và số tiền 560.000 đồng thu giữ của bị cáo Phi, xét thấy không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.
- Đối với 01 (một) căn cước công dân tên Mai Lưu Ngọc P, số:
080078000345 trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2
Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Tuyên bố: Mai Lưu Ngọc P
phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38;
Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Mai
Lưu Ngọc P 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày 26/7/2018.
Buộc bị cáo Mai Lưu Ngọc P phải nộp phạt 5.000.000 đồng (năm triệu
đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.
Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện một lần ngay sau
khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1300/2018/Q1 chứa
chất ma túy
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 254/PNK ngày 24/10/2018 của Công an
Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bóp da hiệu Di Shark màu nâu.
Trả lại cho bị cáo Mai Lưu Ngọc P 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone,
số Imei: 353807088849303 và số tiền 560.000 đồng (năm trăm sáu mươi nghìn
đồng), nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.
Trả lại cho bị cáo Mai Lưu Ngọc P 01 (một) căn cước công dân tên Mai Lưu
Ngọc P, số: 080078000345.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 199/PNK ngày 05/8/2018 của Công an
Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa
đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Mai Lưu Ngọc P phải chịu án phí
hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền phải thi hành
án, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn do
Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy
định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định
được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được
thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND Quận 1, TP. HCM; - Chi cục THADS Quận 1, TP. HCM; - Công an Quận 1, TP. HCM; - Phòng PC 53; - Sở Tư pháp TP. HCM - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Ngọc Tuân Huỳnh Ngọc Tuân |