- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thành - Nhựt"
- Tòa quyết gì? 1- Về hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Minh N.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 188 /2018/HNGĐ-ST Ngày 09 tháng 11 năm 2018 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Tuyền.
- Các Hội thẩm nhân nhân dân:
1. Ông Lê Văn Kiệt
2. Bà Nguyễn Thị Hơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Ni - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho không tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 697/2018/TLST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2018 về tranh chấp Xin ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1988
Địa chỉ: số 519 Tổ 14, Ấp M, xã Đ, Châu Thành, Tiền Giang.
2. Bị đơn: Ông Trần Minh N, sinh năm: 1988
Địa chỉ: số 151/8A Ấp A, xã P, Tp Mỹ Tho, Tiền Giang.
(Có mặt bà T, ông N )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 27/9/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: do quen biết nên vào năm 2012 bà và ông Trần Minh N tự nguyện chung sống như vợ chồng, vợ chồng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông N ham mê cờ bạc, không quan tâm chăm sóc gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn bà yêu cầu:
Về hôn nhân: cho bà được ly hôn với ông N
Về con chung: không có.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 31/10/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Minh N trình bày: ông thống nhất với lời trình bày của bà T về thời gian và quá trình chung sống vợ chồng, vợ chồng chung số vào năm 2012, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, sau đó đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, từ tháng 06/2018 vợ chồng sống ly thân đến nay, ông còn thương bà T nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: bà Nguyễn Thị T và ông Trần Minh N tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2012, không có đăng ký kết hôn. Ngày 27/9/2018 bà T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông N đây là tranh chấp xin ly hôn được quy định tại Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000, điều 87 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho.
Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị T và ông Trần Minh N tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2012 có đủ điều kiện kết hôn, nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại Điều 9, 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm b, khoản 3 nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000; thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/01/2001 của TANDTC, VKSNDTC, BTP do đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Ngày 27/9/2018 bà T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông N. Do đó Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông N phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 189, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Căn cứ các Điều 9, 11, 87 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ điểm b, khoản 3 nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
1- Về hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Minh N.
2- Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013257 ngày 15/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự T phố Mỹ Tho, nên xem như đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà T, ông N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát TP Mỹ Tho; - Chi cục THADS TP Mỹ Tho; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Ngọc Tuyền |