- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "tranh chấp hợp đồng loa động"
- Tòa quyết gì? Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 188/2025/LĐ-ST Ngày: 11 – 4 - 2025 V/v: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hứa Thanh Hải
2. Bà Phạm Thị Thu Yến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 406/2024/TLST-LĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 406/2025/QĐXXST-LĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 406/2025/QĐST-LĐ ngày 24/3/2025, giữa các đƣơng sự:
Nguyên đơn: Bà Dƣơng Thị Đ, sinh năm 1983; thƣờng trú tại: Ấp T, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre; địa chỉ liên hệ: 1 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Công ty Cổ phần S; trụ sở: Đƣờng số D, KCN Đ, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn V, vắng mặt không có lý do.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Dƣơng Thị B, sinh năm 1986; thƣờng trú tại: B H, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bảo hiểm xã hội thành phố T, địa chỉ: Đƣờng N, khu phố B, phƣờng L, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn – bà Dương Thị Đ trình bày:
Do cần rút bảo hiểm xã hội một lần nên bà Dƣơng Thị Đ liên hệ Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng thì đƣợc cung cấp thông tin bà Dƣơng Thị Đ, sinh ngày 01/6/1983, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, số căn cƣớc công dân xxxxxxxxxxxx đã tham gia bảo hiểm xã hội với các mã số sau:
Mã số 9103028802 tham gia từ tháng 7/2003 đến tháng 11/2024 tại công ty cổ phần S, trong đó thời gian từ tháng 7/2003 đến tháng 4/2012 đã chốt sổ bảo hiểm xã hội, chƣa nhận bảo hiểm xã hội một lần và đã nhận trợ bảo hiểm thất nghiệp.
Mã số 9101042202 tham gia từ tháng 01/2001 đến tháng 5/2001 tại công ty TNHH H, chƣa đƣợc bảo hiểm xác nhận chốt sổ, chƣa nhận bảo hiểm xã hội một lần, chƣa nhận trợ cấp thất nghiệp.
Mã số 9104160859 tham gia từ tháng 01/2003 đến tháng 02/2009 tại doanh nghiệp tƣ nhân M tre lá H, chƣa xác nhận chốt sổ, đã nhận bảo hiểm xã hội một lần, chƣa nhận trợ cấp.
Mã số 7410219102 tham gia từ tháng 6/2010 đến tháng 9/2010 tại công ty TNHH H, chƣa đƣợc bảo hiểm xác nhận chốt sổ, chƣa nhận bảo hiểm xã hội một lần, chƣa nhận trợ cấp thất nghiệp.
Đối với mã số bảo hiểm số 9103028802 thì bà Dƣơng Thị Đ xác định không phải bà Dƣơng Thị Đ là ngƣời lao động mà là bà Dƣơng Thị B là em ruột của bà Dƣơng Thị Đ ký kết hợp đồng lao động. Vào khoảng tháng 7/2003 bà Dƣơng Thị B có mƣợn chứng minh nhân dân của bà Dƣơng Thị Đ để ký hợp đồng lao động với Công ty cổ phần S. Trong thời gian này thì bà Dƣơng Thị Đ cũng đang làm việc tại công ty khác. Đến tháng 10/2010 thì bà Dƣơng Thị Đ vào làm việc công ty S sử dụng mã số bảo hiểm này để tiếp tục làm việc, lúc này bà Dƣơng Thị B đã có chứng minh nhân dân nên sử dụng chứng minh nhân dân của bà B để ký kết hợp đồng lao động với công ty S.
Bà Dƣơng Thị Đ xác định việc bà Dƣơng Thị B sử dụng chứng minh nhân dân của bà Dƣơng Thị Đ để ký kết hợp đồng lao động là không đúng quy định pháp luật. Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nhƣ sau:
Tuyên Hợp đồng lao động ký kết giữa ngƣời lao động có tên là Dƣơng Thị Đ (do Dƣơng Thị B là ngƣời ký kết) với ngƣời sử dụng lao động là Công ty cổ phần S trong khoảng thời gian làm từ tháng 7/2003 đến tháng 9/2010 là vô hiệu.
Bà Dƣơng Thị Đ không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì về hậu quả của hợp đồng vô hiệu, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Tài liệu chứng cứ kèm theo hồ sơ gồm có: Sổ bảo hiểm xã hội của bà Đ (bản sao); căn cước công dân của bà B và bà Đ (bản sao); công văn số 71 của Bảo hiểm xã hội thành phố T.
Bị đơn - Công ty cổ phần S đã đƣợc Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhƣng đại diện Công ty không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa.
- Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Dương Thị B trình bày:
Bà Dƣơng Thị B và bà Dƣơng Thị Đ là chị em ruột, vào khoảng tháng 7/2003 bà B có mƣợn chứng minh nhân dân của chị ruột là Dƣơng Thị Đ để ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần S. Bà B ký hợp đồng lao động và làm việc với Công ty Cổ phần S với tên Dƣơng Thị Đ từ tháng 7/2003 đến tháng 9/2010, đến tháng 10/2010 thì bà Dƣơng Thị Đ vào công ty S làm việc sử dụng luôn hợp đồng lao động của bà Dƣơng Thị B đã ký kết với tên bà Dƣơng Thị Đ. Thực tế từ tháng 10/2010 trở đi thì bà Dƣơng Thị Đ là ngƣời ký kết và là việc tại công ty S. Do đã có chứng minh nhân dân nên từ tháng 10/2010 thì bà Dƣơng Thị B ký kết lại hợp đồng lao động với công ty S với tên là Dƣơng Thị B.
Nay bà Dƣơng Thị Đ yêu cầu khởi kiện thì đồng ý theo yêu cầu của bà Đ, không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả vô hiệu của hợp đồng lao động giữa bà B và Công ty Cổ phần S.
Do tôi bận công việc nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt tôi trong suốt quá trình tố tụng đối chất, xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm (nếu có)…...
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày:
Bà Dƣơng Thị Đ, sinh ngày 01/6/1983, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx; số căn cƣớc công dân xxxxxxxxxxxx đƣợc Công ty cổ phần S đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai nạn lao động - Bệnh nghề nghiệp cho bà Dƣơng Thị Đ từ tháng 7/2003 đến tháng 11/2024 mã số sổ Bảo hiểm xã hội 9103028802.
Tuy nhiên trong thời gian này bà Dƣơng Thị Đ tham gia bảo hiểm xã hội mã số 9104160859 tại doanh nghiệp tƣ nhân M tre lá H từ tháng 01/2003 đến tháng 02/2009 và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số 7410219102 từ tháng 6/2010 đến tháng 9/2010 tại công ty H.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bảo hiểm xã hội thành phố T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đƣa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đƣơng sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng, riêng bị đơn không chấp hành pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Căn cứ Điều 15, 16, 49 và 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng lao động.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Bà Dƣơng Thị Đ khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa ngƣời lao động tên Dƣơng Thị Đ (do bà Dƣơng Thị B là ngƣời ký kết) với ngƣời sử dụng lao động là Công ty cổ phần S trong khoảng thời gian từ tháng 7/2003 đến tháng 9/2010 là vô hiệu toàn bộ. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng lao động” đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn - Công ty cổ phần S có địa chỉ trụ sở chính tại phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.
Về việc xét xử vắng mặt đƣơng sự: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhƣng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Việc vắng mặt của bị đơn trong quá trình tố tụng đƣợc xem là từ bỏ quyền trình bày, đƣa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bà Đ, bà B và Bảo hiểm thành phố T có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đƣơng sự.
Các bên không cung cấp đƣợc tài liệu, chứng cứ là Hợp đồng lao động giữa bà Dƣơng Thị Đ và Công ty cổ phần S. Tuy nhiên bà B, bà Đ thống nhất có việc giao kết hợp đồng. Sự thừa nhận của các đƣơng sự là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Qua tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thông tin Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng cung cấp có cơ sở xác định bà Dƣơng Thị Đ cho bà Dƣơng Thị B mƣợn hồ sơ mang tên bà Dƣơng Thị Đ để xác lập hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 7/2003 đến tháng 9/2010 tại Công ty cổ phần S theo số Bảo hiểm xã hội 9103028802 là có căn cứ vì theo công văn của bảo hiểm xã hội thành phố T cung cấp trong thời gian này bà Dƣơng Thị Đ cũng tham gia tham gia bảo hiểm xã hội mã số 9104160859 tại doanh nghiệp tƣ nhân M tre lá H từ tháng 01/2003 đến tháng 02/2009 và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số 7410219102 từ tháng 6/2010 đến tháng 9/2010 tại công ty H. Nhƣ vậy cùng 01 số chứng minh nhân dân nhƣng một lúc tham gia 02 mã số bảo hiểm cùng một lúc là không đúng quy định.
Thực tế đối tƣợng lao động và đối tƣợng ký kết hợp đồng tại Công ty cổ phần S từ 7/2003 đến tháng 9/2010 là bà Dƣơng Thị B chứ không phải bà Dƣơng Thị Đ. Việc bà Dƣơng Thị B mƣợn hồ sơ của bà Dƣơng Thị Đ để đi làm tại Công ty cổ phần S là vi phạm nguyên tắc “trung thực” quy định tại Điều 9 Bộ luật lao động năm 1994 (khoản 1 Điều 15 Bộ luật lao động năm 2019), do đó căn cứ Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015) và Điều 49, Điều 50 Bộ luật lao động năm 2019 đây là trƣờng hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, nên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dƣơng Thị Đ.
Bà Dƣơng Thị B và Công ty cổ phần S không tranh chấp gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Dƣơng Thị Đ tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm thay cho Công ty cổ phần S.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
-Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 9 Bộ luật lao động năm 1994 và Điều 17, 19, 50, 51, 52 Bộ luật Lao động năm 2012 (các Điều 15, 16, 49, 50, 51 Bộ luật Lao động năm 2019).
- Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015).
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Dƣơng Thị Đ về việc tranh chấp hợp đồng lao động với bị đơn - Công ty cổ phần S.
- Tuyên bố Hợp đồng lao động giao kết giữa bà Dƣơng Thị Đ (do bà Dƣơng Thị B ký) và Công ty cổ phần S trong thời gian từ tháng 7/2003 đến tháng 9/2010 bị vô hiệu toàn bộ.
Cơ quan Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Dƣơng Thị Đ theo quy định pháp luật.
2 . Về án phí: Bà Dƣơng Thị Đ tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm, đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005412 ngày 11/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Nguyên đơn, bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND Tp. Thuận An; - CCTHADS Tp. Thuận An; - Các đƣơng sự; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc |