- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Đậu B và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Đậu B phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 188/2023/HS-ST Ngày 28 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ và ông Tô Văn Nhung
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vương, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại Hội trường A trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 194/2023/HSST ngày 06 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203 /2023/QĐXXST-HS ngày 14/6/2023 đối với các bị cáo.
1. Trần Đậu B, sinh năm 1976 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: Thôn C, xã H, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; tôn giáo: Không; con ông Trần Đậu H, sinh năm 1952 và con bà Phan Thị X, sinh năm 1954; bị cáo có vợ tên Võ Thị Hồng L, sinh năm 1978 và có 02 con cùng sinh năm 2004 ; tiền sự, tiền án: Không có.
Tiền sự:
+ Ngày 10/8/2020, Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng, theo quyết định số 258. Ngày 26/7/2021 chấp hành xong quyết định, theo giấy chứng nhận số 148.
Nhân thân:
+ Ngày 29/11/2005 bị Công an phường Hưng Bình, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 50.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, theo quyết định số 04, đã đóng phạt theo biên lai thu số 0186203
+ Ngày 12/10/2010, UBND quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, theo quyết định số 6738 ngày 27/10/2010, ngày 10/10/2012 chấp hành xong quyết định
Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 12/12/2022, có mặt.
2. Trần Đình V, sinh năm 1996 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Thôn T, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Thợ thạch cao; trình độ học vấn: 9/12; tôn giáo: Không; con ông Trần V H, sinh năm 1956 và con bà Trần Thị V (đã chết); bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là thứ 4; tiền án: Không có.
Tiền sự: Ngày 02/11/2017 Công an huyện C, tỉnh Nghệ An ra quyết định xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khoẻ của người khác, theo quyết định số 271, bị cáo chưa nộp phạt
Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 12/12/2022, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Đậu B, Trần Đình V sử dụng ma tuý. Vào lúc 20 giờ 05 phút ngày 11/12/2022, V sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, gắn sim số 0333.842.928 gọi vào số điện thoại 0337.278. 904 của B hỏi mua 100.000 đồng ma túy loại Heroine, B hẹn V đến khu phố Tân Phú 1, phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận ma túy, B thuê xe Grab đi và yêu cầu V trả 100.000 đồng tiền Grab (do chân B bị đau không tự đi xe được). Sau đó, V điều khiển xe môtô hiệu Honda Wave alpha biển số 37E1-201.63 đến gặp B trên đường Lê Hồng Phong. Khi đến trước quán cafe Sala thấy B đang ngồi trên xe Grab do một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) điều khiển, V đưa cho B 200.000 đồng (100.000 đồng trả tiền xe Grab và 100.000 đồng trả tiền ma túy). B chỉ V đến gốc cây gần đó để lấy ma tuý, B được nam thanh niên chạy xe Grab chở đi. Khi đến địa điểm V không tìm thấy ma tuý, V gọi điện thoại cho B hỏi thì B nói “ma tuý bị dính trên người B, V đến nhà kho không số thuộc tổ 20 khu phố Tân Phước, phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương lấy”. Sau đó B chỉ đường cho V đến và chỉ chỗ giấu ma tuý trong một khẩu trang màu xanh để ở mép đường, V nhận được ma tuý mang về sử dụng hết.
Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 12/12/2022, lực lượng Công an thành phố Dĩ An tuần tra kiểm soát trên địa bàn phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, khi đến trước nhà số 570 đường Lê Hồng Phong, khu phố Tân Phú 1, phường Tân Bình phát hiện Trần Đình V điều khiển xe mô tô biển số 37E1-201.63 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện V thả từ trong lòng bàn tay trái xuống đường 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa chất màu trắng và 01 gói giấy chứa chất màu trắng. V khai nhận chất màu trắng là Heroine. V bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Khi làm việc V khai nhận nguồn gốc ma tuý là do lúc 11 giờ 30 phút ngày 12/12/2022, V gọi điện cho Trần Đậu B hỏi mua 100.000 đồng ma tuý (Heroine), B nói V đến chỗ ở của B lấy, V đến đưa cho B 100.000 đồng, B đưa V 01 liều ma tuý loại Heroine được chứa trong đoạn ống hút hàn kín hai đầu. B còn nhờ V cầm dùm B 01 liều ma tuý đựng trong ống hút nhựa hàn kín hai đầu và 01 gói giấy chứa ma tuý ra quán cà phê Sala trên đường Lê Hồng Phong để lúc sau B ra lấy sử dụng (B sợ để ở nhà bị chủ nhà phát hiện). Khi V đi khỏi chỗ ở của B được khoảng 500m thì bị dừng xe kiểm tra.
Tiến hành khám xét chỗ ở của B tại nhà kho không số thuộc tổ 20, khu phố Tân Phước, phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thu giữ trong lòng bàn tay trái của B 03 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa chất màu trắng và 01 gói giấy chứa chất màu trắng, trong túi quần 1 điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng gắn sim số 0337.278. 904. Chất màu trắng B khai nhận là ma tuý loại Heroin, B mua để sử dụng.
Quá trình điều tra B khai nhận: Tối ngày 11/12/2022, sau khi gặp và nhận tiền của V (B lưu tên là Thạch Cao), B được người chạy Grab (không rõ lai lịch) chở đến khu vực phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An gặp một nam thanh niên (không rõ lai lịch) mua 100.000 đồng ma túy loại Heroine được bảo quản trong 02 (hai) đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu. Sau khi mua ma tuý, trên đường về B vào bãi đất trống tự tay chia hai đoạn ống hút hàn kín chứa Heroine ra thành 03 đoạn ống hút hàn kín khác chứa Heroin và 01 gói giấy chứa Heroin, đồng thời hẹn V đến chỗ ở của B lấy gói giấy ma túy để trong khẩu trang. Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 12/12/2022, B bán cho V 100.000 đồng ma tuý loại Heroine được bảo quản trong 01 đoạn ống hút hàn kín, đồng thời nhờ V mang 01 đoạn ống hút hàn kín chứa Heroine và 01 gói giấy chứa Heroine ra đứng trước quán cà phê Sala trên đường Lê Hồng Phong để B ra lấy sử dụng (B sợ để ma tuý trong nhà bị chủ nhà phát hiện). Khi B ra trước quán cafe Sala không gặp, không liên lạc được V, khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày B đi đến khu vực quán cà phê Sala gặp người thanh niên Grab nêu trên nhờ mua 100.000 đồng ma túy (số tiền này là tiền V trả mua ma tuý vào buổi trưa). Sau đó, người đi xe Grab đi đâu một lúc rồi quay lại đưa cho B 02 đoạn ống hút hàn kín chứa Heroin. B vào bãi đất trống tự tay chia ra thành 03 đoạn ống hút hàn kín đều chứa Heroine và 01 gói giấy chứa Heroine rồi mang về chỗ ở cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc B đang cầm số ma túy đã phân chia được trong lòng bàn tay trái thì bị kiểm tra, bắt giữ.
Quá trình bị tạm giam B thay đổi lời khai: Thừa nhận bán ma tuý cho V một lần vào trưa ngày 12/12/2022 và có gửi ma tuý cho V giữ dùm để lấy sử dụng. B không thừa nhận tối 11/12/2022 bán ma tuý cho V, ma tuý B có do người bạn tên T (không rõ nhân thân) cho.
Bản kết luận giám định số: 577/MT-PC09 ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương đối với: 03 (ba) đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa chất màu trắng (ký hiệu M1-1) và 01 (một) gói giấy chứa chất màu trắng (ký hiệu M1-2) thu giữ của Trần Đậu B. 01 (một) đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa chất màu trắng (ký hiệu M2-1); 01 (một) đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa chất màu trắng (ký hiệu M2-2); 01 (một) gói giấy chứa chất màu trắng (ký hiệu M2-3) thu giữ của Trần Đình V, có khối lượng như sau: Mẫu chất màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng: M1-1 = 0,1551 gam; M1-2 = 0,1020 gam. M2-1 = 0,0548 gam, M2-2 = 0,0635 gam, M2-3 = 0,1023 gam (trong đó M2-2 là ma túy V mua của B, M2-1 và M2-3 là ma túy V giữ dùm B).
+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha biển số 37E1-201.63, số máy: HC12E5075135, số khung: RLHHC1217DY074979 trả chủ sở hữu ông Trần V Hoá
Đối tượng bán ma tuý cho B và đối tượng chạy xe ôm Grab hiện chưa xác định được nhân thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Cáo trạng số 130/CT-VKS - DA ngày 5/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Đậu B về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Truy tố bị cáo Trần Đình V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
+ Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Đậu B từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù
+ Điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Đậu B từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Buộc bị cáo Trần Đậu B phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm 06 tháng tù
+ Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Đình V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù
Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ ma tuý còn lại sau giám định, số điện thoại 0333.842.928 và 0337.278.904 đã thu giữ.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước điện thoại di động thu giữ của bị cáo B và V .
Các bị cáo V, B không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng: Biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất để sớm về gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định bị cáo Trần Đậu B, Trần Đình V phạm tội: Bị cáo B, V sử dụng ma tuý. Tại phiên Toà bị cáo B thừa nhận bán ma tuý cho bị cáo V 02 lần ma tuý, mỗi lần 100.000 đồng, ma tuý loại Heroine vào ngày 11/12/2022 và 12/12/2022. Bị cáo B còn cất giữ 0,4142 gam ma tuý loại Heroine để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo B là hành vi của tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo V mua B 0,0635 gam ma tuý loại Heroine để sử dụng, đồng thời cầm giúp B 0,1571 gam Heroine để B sử dụng. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ từ V 0,2206 gam. Hành vi trên của V đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng số 130 ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An truy tố các bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo V, B không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo nhận tội, ăn năn hối cải; Bị cáo B tự thú khai nhận việc bán ma tuý ngày 11/12/2022 trước ngày bị bắt quả tang. Tình tiết trên được quy định điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo V, B có nhân thân xấu thể hiện việc không có nghề nghiệp ổn định, các bị cáo sử dụng ma tuý trong thời gian dài. Bị cáo B bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhiều lần, lần phạm tội này thể hiện sự không hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật
Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo B phạm cùng lúc 02 tội, trong đó có một tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 15 năm tù, bị cáo V phạm tội nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 5 năm tù. Các bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hiện nay hành vi mua bán trái phép chất ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy diễn ra nhiều và phức tạp việc này ảnh hưởng rất lớn đến sự an toàn, an nguy của xã hội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Đối với tội “Tàng trữ sử dụng trái phép chất ma tuý” có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng sử dụng ma tuý, các bị cáo tham gia với vai trò thực hành.
Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ ma túy còn lại sau giám định, , sim số điện thoại di động của bị cáo B, V sử dụng vào việc phạm tội. Cần tịch thu tiêu huỷ, đối với điện thoại thu giữ của bị cáo V, B do liên quan sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, việc xử lý vật chứng, mức hình phạt bị cáo B phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo V có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử xử phạt mức hình phạt thấp hơn so với đề nghị của Viện kiểm sát.
Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Đậu B phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Bị cáo Trần Đình V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1.1 Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trần Đậu B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trần Đậu B 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Buộc bị cáo Trần Đậu B phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
1.2 Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Đình V 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Thời hạn tù đối với bị cáo Trần Đậu B, Trần Đình V tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 12/12/2022.
2. Các biện pháp tư pháp.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 02 bì thư được niêm phong ghi số 577M1/PC09 và 577M2/PC09 là chất ma tuý còn lại sau giám định có khối lượng là M1-1 = 0,1148 gam; M1-2 = 0,0945 gam; M2-1 = 0,0166 gam; M2-2 =0,0069 gam; M2-3 = 0,0835 gam; số điện thoại 0333.842.928 và sim số 0337.278.904
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu OPP0 màu vàng
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.
Các bị cáo Trần Đậu B, Trần Đình V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP Dĩ An; - Công an TP Dĩ An; - Chi cục THA dân sự TP Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - VKS tỉnh BD; - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú; - Phòng PV 06 CA tỉnh BD; - Phòng PC 10 CA tỉnh BD; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Linh |