- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh LSH.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SY TỈNH QD | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 188/2023/HNGĐ- ST Ngày: 30/6/2023 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SY, TỈNH QD
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn N;
2. Bà Lộc Thị Kim Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện SY, tỉnh QD.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SY, tỉnh QD tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 30/6/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện SY mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2023/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 4 năm 2023, về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22/5/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 36a/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/6/2023, giữa:
* Nguyên đơn: Anh LSH, sinh năm 1987
* Bị đơn: Chị LTP, sinh năm 1992
Cùng trú tại: Thôn NGN, xã ĐV, huyện SY, tỉnh QD.
(Anh H có đơn xin xét xử vắng mặt; chị P vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh LSH trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị LTP tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 16/4/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Hùng Lợi, huyện SY, tỉnh QD và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng anh làm ăn, sinh sống ở thôn NGN, xã ĐV, huyện SY, tỉnh QD. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, hòa thuận. Đến năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình hai bên không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng anh sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị LTP.
Về con chung: Anh và chị P có 03 con chung là cháu LĐA, sinh ngày 20/6/2008, cháu LAN , sinh ngày 27/4/2012 và cháu Lý Điêu Th, sinh ngày 24/01/2016, hiện nay các cháu đang ở cùng anh. Khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả cháu Anh, cháu N và cháu Th và không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, về nợ chung: Anh xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên chị P không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của H. Do đó Tòa án không lấy được lời khai và không tiến hành hòa giải được. H có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải.
Trong đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, H giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện SY phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh LSH, xử cho H được ly hôn với chị LTP. Về con chung, giao cháu LĐA, sinh ngày 20/6/2008, cháu LAN , sinh ngày 27/4/2012 và cháu Lý Điêu Th, sinh ngày 24/01/2016 cho H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. H không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con chung nên chị P không phải dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung, H xác định không có nên không đề nghị xem xét, giải quyết. Về án phí, H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh LSH và chị LTP kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16/4/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Hùng Lợi, huyện SY, tỉnh QD, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị P và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Kết quả xác minh xác định, bị đơn là chị LTP có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn NGN, xã ĐV, huyện SY. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện SY.
. Chị LTP đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về yêu cầu khởi kiện của anh LSH, Hội đồng xét xử nhận định:
. Đối với yêu cầu xin ly hôn với chị LTP: Căn cứ kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị P có hộ khẩu thường trú và sinh sống xác định: Anh LSH và chị LTP kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/4/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Hùng Lợi, huyện SY, tỉnh QD. Sau khi kết hôn vợ chồng H, chị P làm ăn, sinh sống tại thôn NGN, xã ĐV, huyện SY, tỉnh QD. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn cụ thể địa phương không nắm được, nhưng hiện tại vợ chồng H, chị P đã sống ly thân, hiện không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Bản thân H xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể quay lại đoàn tụ được. Mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn theo H xác định do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Quá trình giải quyết vụ án, chị P không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của H, không có mặt theo yêu cầu của Tòa án để tiến hành hòa giải, điều đó cho thấy chị P cũng không mong muốn hòa giải đoàn tụ. H và chị P đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai quan tâm đến ai, điều này đã được chính quyền địa phương xác nhận.
Từ những căn cứ trên xác định, tình trạng hôn nhân giữa H và chị P đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của H là chính đáng và có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Đối với yêu cầu được giao nuôi con chung khi ly hôn, Hội đồng xét xử nhận định: H và chị P có 03 con chung là cháu LĐA, sinh ngày 20/6/2008, cháu LAN , sinh ngày 27/4/2012 và cháu Lý Điêu Th, sinh ngày 24/01/2016, hiện nay các cháu đang ở cùng H. Chị P giấu địa chỉ, không rõ nghề nghiệp, mức thu nhập và không có văn bản trình bày nguyện vọng nuôi con. Bản thân H có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, thu nhập và có nhà của, chỗ ở ổn định. Cháu Anh, cháu N, cháu Th đều trên 7 tuổi, có nguyện vọng được sống cùng bố. Tham vấn ý kiến của chính quyền địa phương có ý kiến, hiện chị P thường xuyên vắng nhà, H vẫn đảm bảo mọi điều kiện nuôi con trong suốt thời gian chị P vắng nhà, trong hoàn cảnh của H thì Toà án nên giao cả 03 cháu cho H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu được quyền nuôi con của H là có căn cứ cần được chấp nhận. Do H không yêu cầu cấp dưỡng nên chị P không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luâ ̣t. Chị LTP không phải nộp án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh LSH.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh LSH được ly hôn với chị LTP.
2. Về con chung: Giao cháu LĐA, sinh ngày 20/6/2008, cháu LAN , sinh ngày 27/4/2012 và cháu Lý Điêu Th, sinh ngày 24/01/2016 cho anh LSH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị LTP không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh LSH phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nô ̣p là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0006245, ngày 20 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện SY, tỉnh QD. Chị LTP không phải chịu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Anh LSH và chị LTP có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận - TAND tỉnh QD; - VKSND huyện SY; - Chi cục THADS huyện SY; - UBND xã HL (Nơi ĐKKH); - Các đương sự; - Lưu VT- HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lộc Thị Kim Thơm - Phạm Văn N | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Quỳnh THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Quỳnh |