vanban.org

Bản án 188/2023/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị O được ly hôn với anh Lê Minh H

Về con chung: Giao cháu Lê Thị Xuân N, sinh ngày 22/7/2017 và Lê Bảo L, sinh ngày 28/8/2019 cho chị Lê Thị O tiếp tục nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị O được ly hôn với anh Lê Minh H
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2023/HN - ST
Ngày: 28 - 12 - 2023
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tú

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Trước

2. Ông Lê Minh Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 459/2023/TLST – HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2023/QĐXXST - HN ngày 22 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị O, sinh năm 1991 (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Lê Minh H, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Cùng trú tại: ấp T, xã TH, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/9/2023 và tại phiên tòa – nguyên đơn chị Lê Thị O trình bày:

Qua quen biết chị O và anh Lê Minh H tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 12/5/2017. Vợ chồng sống chung đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh H không chăm lo làm việc, không chăm sóc cho vợ và con, nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, do không thể tiếp tục chung sống được đến tháng 3/2023 chị O bỏ nhà đi từ tháng 6/2023 cho đến nay, mạnh người nào người đó sống, không ai quan tâm gì đến ai. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Minh H.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thị Xuân N, sinh ngày 22/7/2017 và Lê Bảo L, sinh ngày 28/8/2019, chị O yêu cầu nuôi 02 con chung

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị O không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung

Về tài sản chung: Chị O không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết

Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết

Bị đơn anh Lê Minh H không có văn bản nêu ý kiến về các yêu cầu của chị O

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “ly hôn, nuôi con”, do bị đơn hiện đang cư trú tại xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Minh H được triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 48, do Ủy ban nhân dân xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 12/5/2017 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh H là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh H đã có nhiều bất hòa, vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, mạnh ai nấy sống nên tình cảm vợ chồng không còn, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh H không có văn bản phản đối gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị O. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần, nhưng anh H vắng mặt không có lý do, nên không có khả năng hàn gắn. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu ly hôn của chị O là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị O được ly hôn với anh H.

Về con chung: Xét thấy cháu Lê Thị Xuân N, sinh ngày 22/7/2017 và Lê Bảo L, sinh ngày 28/8/2019 hiện do chị O đang nuôi dưỡng, cháu Nghi có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị O. Để đảm bảo sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần, đồng thời để đảm bảo quyền lợi của trẻ em sau khi ly hôn, nên Hội đồng xét xử giao cháu Lê Thị Xuân N và Lê Bảo L cho chị O tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị O không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị O không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét

Về nợ chung: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Buộc chị O phải chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị O được ly hôn với anh Lê Minh H

2. Về con chung: Giao cháu Lê Thị Xuân N, sinh ngày 22/7/2017 và Lê Bảo L, sinh ngày 28/8/2019 cho chị Lê Thị O tiếp tục nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị O không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.

4. Về tài sản chung: Chị O không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000049 ngày 13/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ; chị O đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị O được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Minh H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ