vanban.org

Bản án 188/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 07/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo PhA QuAg Qưới.

Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 40/2022/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh A N. Xử phạt bị cáo PhA QuAg Q 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Quang Quới - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo PhA QuAg Qưới.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2022/HS-PT
Ngày: 07-11-2022

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Ngầu

Ông Nguyễn Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2022 tại Tòa án nhân dân tỉnh TN xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 188/2022/TLPT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo PhA QuAg Qưới do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2022/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh A N.

- Bị cáo có kháng cáo: PhA QuAg Q, sinh năm 1980, tại: tỉnh A N; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: số 568, đường Tôn Đức T, ấp Long B, xã Long T N, thị xã H T, tỉnh A N; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt N; con ông PhA Ngọc D (đã chết) và bà Bùi Thị H (đã chết); bị cáo có vợ, 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 06-3-2022 đến ngày 15-3-2022, tạm giam từ ngày 15-3-2022, đến ngày 31-3-2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại (có mặt)

- Bị hại:

1. Ah Huỳnh Văn L, sinh năm: 1997 (đã chết); người đại diện hợp pháp của bị hại Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; địa chỉ: ấp Trường A, xã Trường A, thị xã H T, tỉnh A N, là bà ngoại của Ah L (vắng mặt).

2. Ah Trần Ngô Thái H, sinh năm: 1998 (đã chết); Người đại diện hợp pháp của bị hại là Ông Trần Đình H, sinh năm 1956 và bà Ngô Thị Mỹ Y, sinh năm 1959; cùng địa chỉ: Thôn 3, xã Đa L, huyện Đồng X, tỉnh Phú Y, là cha mẹ của Ah H (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1964; địa chỉ: ấp Long Chí, phường Long T N, thị xã H T, tỉnh A N; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 06/3/2022, PhA QuAg Q điều khiển xe ô tô tải biển số 70C-007.77 lưu thông từ huyện Tân Châu, tỉnh A N về xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh A N; khi đến đoạn đường 784 thuộc khu vực ấp N Hưng 2, xã Chà Là, huyện Dương Minh Châu, Q điều khiển xe lấn sAg phần đường bên trái để vượt xe ô tô khách đAg chạy cùng chiều phía trước không đảm bảo A toàn nên đã va chạm với xe mô tô, biển số 77X3-8630 do Ah L điều khiển chở Ah H ngồi phía sau đAg lưu thông theo chiều ngược lại. Hậu quả Ah L và Ah H tử vong.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 48/2022/TT ngày 04 tháng 4 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công A tỉnh A N kết luận: nguY nhân tử vong của Ah L do sốc đa chấn thương.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 49/2022/TT ngày 04 tháng 4 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công A tỉnh A N kết luận: nguY nhân tử vong của Ah H do chấn thương sọ não.

Kết luận giám định số 363/KL -KTHS ngày 16 tháng 3 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công A tỉnh A N kết luận: Mẫu máu ghi thu của bị cáo Q không có nồng độ cồn; mẫu máu ghi thu của Ah L có nồng độ cồn trong máu là 151,078mg/100ml máu; mẫu máu ghi thu của Ah H có nồng độ cồn trong máu là 161,701mg/100ml máu.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Q đã bồi thường cho gia đình Ah L số tiền 60.000.000 đồng, gia đình Ah H số tiền 90.000.000 đồng. Người đại diện của bị hại Ah H và Ah L đã nhận đủ tiền bồi thường và làm đơn bãi nại cho bị cáo Q.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2022/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh A N đã xử:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. TuY bố bị cáo PhA QuAg Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo PhA QuAg Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời giA tạm giữ, tạm giam từ ngày 06-3-2022 đến ngày 31-3-2022.

Trách nhiệm dân sự: ghi nhận đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuY về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13 tháng 9 năm 2022 bị cáo Qưới có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt với lý do: bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong; người đại diện của bị hại bãi nại và có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự; bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi vơ và hai con nhỏ.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguY yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quA điểm về việc giải quyết vụ án: đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguY bản án sơ thẩm.

Bị cáo không trAh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm bị cáo; người đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quA tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quA tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm là hợp pháp.

Đơn kháng cáo của bị cáo Qưới làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

Về tội dAh: kết quả xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định. Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 06/3/2022, bị cáo Q điều khiển xe ô tô tải biển số 70C-007.77 lưu thông từ huyện Tân Châu, tỉnh A N về xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh A N trên đoạn đường 784, khi đến khu vực ấp N Hưng 2, xã Chà Là, huyện Dương Minh Châu, bị cáo Q điều khiển xe lấn sAg phần đường bên trái để vượt xe ô tô khách đAg chạy cùng chiều phía trước không đảm bảo A toàn nên đã va chạm với xe mô tô biển số 77X3-8630 do Ah L điều khiển chở Ah H ngồi phía sau đAg lưu thông theo chiều ngược lại. Hậu quả Ah L và Ah H tử vong do chấn thương sọ não, sóc đa chấn thương. Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: chiều rộng mặt đường là 10,88m, có vạch kẻ dường đứt quảng ở giữa phân chia T hai phần đường. Lấy lề đường bên trái từ hướng xã Chà Là về hướng xã Cầu Khởi làm chuẩn để đo đạc từ vạch kẽ đường vào lề chuẩn là 5,57m. Đo từ vết phAh bánh đôi của xe ô tô liền nét màu đen nằm trên phần đường bên trái của đường 784 hướng từ xã Chà Là đi xã Cầu Khởi, vết phAh có chiều dài 18,75m, rộng 0,55m; từ đầu vết phAh đo vào lề chuẩn là 3,45m. Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo PhA QuAg Qưới phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Vụ án mAg tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của nhiều người được pháp luật bảo vệ; thực hiện tội phạm với lỗi vô ý vì quá tự tin; gây mất trật tự trị A nên cần xử lý theo pháp luật.

Về hình phạt:

- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T khẩn khai báo ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại xong, đại diện bị hại làm đơn xin bãi nại cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên xử phạt bị cáo 03 năm tù, chưa xem xét đến tình tiết giảm nhẹ là sau khi gây tai nạn bị cáo đầu thú; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là có căn cứ nên chấp nhận; sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguY bản án sơ thẩm là chưa phù hợp nên không chấp nhận.

Về án phí: do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các quyết định của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo PhA QuAg Qưới.

3. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 40/2022/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh A N.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; 54 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo PhA QuAg Q 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày

bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời giA tạm giữ, tạm giam từ ngày 06-3-2022 đến ngày 31-3-2022.

4. Án phí phúc thẩm: bị cáo PhA QuAg Q không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuY án.

Cỡ chữ