- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Sen ly hôn với Nguyễn Hoàng Minh Phú"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đặng Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 188/2020/HNGĐ-ST Ngày 31-7-2020. V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lộc;
2. Bà Trần Thị Bích Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1044/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2020; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị S, sinh năm: 1990; địa chỉ: Thôn CT, xã MC, huyện PM, tỉnh BĐ. (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng Minh P, sinh năm: 1990; địa chỉ: Thôn CT, xã MC, huyện PM, tỉnh BĐ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/3/2020, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đặng Thị S trình bày:
+ Về hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MC, huyện PM, tỉnh BĐ vào ngày 15 tháng 8 năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống; bị đơn không chí thú làm ăn, sống thiếu trách nhiệm với gia đình và vợ chồng không còn chung sống từ cuối năm 2018 cho đến nay. Nguyên đơn nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn với bị đơn.
+ Về con chung: Có 01 người là Nguyễn Thục Q, sinh ngày 17/8/2014. Khi ly hôn nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không có, nên khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Hoàng Minh P: Bị đơn có nơi cư trú tại Thôn CT, xã MC, huyện PM, tỉnh BĐ. Bị đơn biết được Toà án đang thụ lý, giải quyết vụ kiện ly hôn của vợ chồng; được Tòa án tiến hành cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án, nhưng bị đơn không có văn bản ý kiến về việc Tòa án thụ lý vụ kiện gửi đến Tòa án; cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tại phiên tòa bị đơn vắng mặt.
- Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn không có vi phạm. Tuy nhiên, bị đơn được Tòa án tiến hành cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án nhưng bị đơn không chấp hành.
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” và bị đơn có nới cư trú tại huyện PM, tỉnh BĐ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo quy định của khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Đặng Thị S được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Minh P.
+ Về con chung: Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Nguyễn Thục Q, sinh ngày 17/8/2014 cho chị Đặng Thị S tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh P không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Chị Đặng Thị S xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, vì lý do không làm việc được với Nguyễn Hoàng Minh P nên vấn đề này sẽ được xem xét trong một vụ án khác, nếu các bên đương sự có yêu cầu.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc chị Đặng Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
M, tỉnh BĐ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a k
, tỉnh Bình Định.
Về hôn nhân: Chị Đặng Thị S và anh Nguyễn Hoàng Minh P kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ ngày 15/8/2012 là phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số: 44/2012, quyển số: 01/2012 của UBND xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ cấp cho Nguyễn Hoàng Minh P và Đặng Thị S ngày 15/8/2012. Nên hôn nhân giữa chị S và anh P là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị S cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không thể khắc phục được. Nguyên nhân chính là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống; anh P không chí thú làm ăn, sống thiếu trách nhiệm với gia đình và vợ chồng không chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án hợp lệ cho anh Nguyễn Hoàng Minh P, nhưng anh P không có văn bản trình bày ý kiến đối với việc Tòa án thụ lý vụ án gửi đến Tòa án; không đến Tòa án để giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh P vắng mặt. Điều này cho thấy anh Nguyễn Hoàng Minh P bỏ mặt hậu quả hôn nhân của vợ chồng.
Xét hôn nhân giữa chị Đặng Thị S và anh Nguyễn Hoàng Minh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có duy trì cũng không đem lại kết quả. Điều này phù hợp với thực tế và phù hợp với kết quả xác minh mâu thuẫn của vợ chồng tại địa phương nơi anh Phú cư trú. Do đó, chấp nhận cho chị Đặng Thị S được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Minh P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Đặng Thị S khai giữa chị S và anh Nguyễn Hoàng Minh P có 01 người con chung là Nguyễn Thục Q, sinh ngày 17/8/2014. Xét lời khai của chị S là phù hợp với Giấy khai sinh (bản sao) số: 117/2014, quyển số 01/2014 ngày 25/9/2014 của Ủy ban nhân dân xã ML, huyện PM cấp cho Nguyễn Thục Q, sinh ngày 17/8/2014. Khi ly hôn chị Đặng Thị S yêu cầu được tiếp tục nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con của chị S là chính đáng, bỡi vì: Cháu Q sống với chị S từ năm 2018 đến nay. Để đảm bảo sự chăm sóc, giáo dục và phát triển tâm lý của cháu Q ổn định, nên giao cháu Q cho chị S tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Chị S không yêu cầu, nên không xét.
Về tài sản chung: Chị Đặng Thị S trình bày vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, vì lý do không làm việc được với Nguyễn Hoàng Minh P. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Khi nào chị Đặng Thị S và anh Nguyễn Hoàng Minh P tranh chấp và có yêu cầu thì Tòa án thụ lý, giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, nguyên đơn chị Đặng Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đặng Thị S.
1. Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị S được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Minh P.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thục Q, sinh ngày 17/8/2014 cho chị Đặng Thị S được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý và anh Nguyễn Hoàng Minh P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Hoàng Minh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng anh P không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị S. Khi cần thiết chị S, anh P có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không xem xét trong vụ án này. Khi nào chị Đặng Thị S và anh Nguyễn Hoàng Minh P có tranh chấp và yêu cầu thì Tòa án thụ lý, giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đặng Thị S
(
, nhưng đư
S
0001154
16 4 năm 2020
, tỉnh Bình Định.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Hoàng Minh P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TA tỉnh; - VKSND H.Phù Mỹ; - Các đương sự; - THADS H.Phù Mỹ; - UBND xã ML; - Lưu VP- HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bá Tùng |