- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo L - TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Lê L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 188/2018/HSST Ngày: 15/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, TP.HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Kế Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quốc Sơn
2. Ông Bùi Bá Huynh
-Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm: Ông Lê Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 15/8/2018, tại Trụ sở tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 198/2018/HSST, ngày 01tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Lê L, sinh năm 1987; NKTT: Số nhà 61, tổ 21 phố Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số nhà 12 ngách 104 ngõ 73, phố Nguyễn Lương Bằng, phường Nam Đồng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Thợ tạc tượng mỹ nghệ; Trình độ văn hoá:12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Trần Lê Thăng, sinh năm 1957; con bà: Nguyễn Thanh Vân, sinh năm 1962. Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, Tiền sự: Chưa. Bị bắt ngày 18/4/2018. Hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 27/4/2018. Danh chỉ bản số 381 do công an quận Nam Từ Liêm lập ngày 29/4/2018. Bị cáo hiện đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 ngày 17/4/2018, Trần Lê L gặp Bằng (chưa rõ nhân thân lai lịch) ở khu vực quảng trường Mỹ Đình, Mỹ Đình 1, Nam Từ Liêm, thanhg phố Hà Nội và nhờ Bằng mua hộ 500.000 đồng ma tuý tổng hợp dạng đá để sử dụng. Bằng đồng ý, nhận tiền của L và bảo L đứng chờ tại khu vực trên. Một lát sau, Bằng quay lại quảng trường Mỹ Đình, Mỹ Đình 1, Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội gặp L, cầm theo 01 túi ma tuý đá và đi cùng hai nam thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch). Bằng giới thiệu là hai người bạn của Bằng và xin L cho hai nam thanh niên đó sử dụng ma tuý cùng. L đồng ý, cầm túi ma tuý đá Bằng mua hộ rồi cùng Bằng và hai người bạn của Bằng cùng điều khiển xe máy sang khu vực quận L Biên, Hà Nội tìm thuê nhà nghỉ để cùng nhau sử ma tuý. Trên đường đi, L mua tẩu hút, chai nhựa và ống hút để sử dụng ma tuý ở khu vực đường Đê La Thành, Đống Đa, Hà Nội (không xác định được người bán và địa chỉ cụ thể). Khi đến nhà nghỉ (không xác định được tên và địa chỉ cụ thể) ở khu vực chợ Việt Hưng, quận L Biên, Hà Nội, L tự chế bộ sử dụng ma tuý đá từ chai nước Lavie màu xanh, L tháo bỏ nắp chai ra, gắn tẩu hút bằng thuỷ tinh và ống hút vào rồi đổ ma tuý đá vào tẩu hút thuỷ tinh để sử dụng. Cả 04 người cùng sử dụng ma tuý từ 18 giờ đến khoảng 22 giờ cùng ngày rồi trả phòng và ra về. Số ma tuý đá còn lại L cất giấu trong người để lần sau tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 04 giờ ngày 18/4/2018, L điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Anpha BKS 29C1- 671.25 đến khu vực ngã tư đường Mễ Trì và đường Phạm Hùng, phường Mỹ Đình 1, Nam Từ Liêm, Hà Nội thì bị Tổ công tác Đại đội 2, Tiểu Đoàn 1, Trung đoàn Cảnh sát cơ động Công an thành phố Hà Nội đã tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng tang vật.
* Vật chứng thu giữ của Trần Lê L:
- 01 túi niL màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng;
- 01 nắp chai nhựa màu xanh gắn tẩu hút tự tạo bằng thuỷ tinh đựng tinh thể màu trắng;
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Anpha BKS 29C1- 671.25.
Tại bản kết luận giám định số: 3736 ngày 26/4/2018 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói niL là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng: 0,238 gam.
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 coóng thuỷ tinh là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng: 0, 119 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Lê L khai nhận hành vi phạm tội.
Về nguồn gốc ma túy: Trần Lê L khai ngày 17/4/2018, L nhờ một người tên Bằng mua hộ với số tiền là 500.000 đồng. L chỉ biết người đó tên là Bằng, không biết nhân thân lai lịch. Về hai người bạn của Bằng, sử dụng ma tuý chung với L và Bằng. L lần đầu tiên gặp, không biết nhân thân lai lịch, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 29C1-671.25 qua xác minh chủ sở hữu là chị Nguyễn Thanh Vân là mẹ đẻ của L. Chị Vân cho L mượn nhưng không biết L sử dụng để tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 14/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm đã trao trả xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 29C1-671.25 cho chị Nguyễn Thanh Vân.
Tại bản Cáo trạng số 214/CT-VKS ngày 24/7/2018, Viện kiểm sát nhân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Trần Lê L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội được ở cùng với gia đình và lao động ngoài xã hội.
- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Lê L từ 12 đến 15 tháng tù.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong 01túi niL mầu trắng bên trong chưa tinh thể mầu trắng giám định là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng: 0,238 gam và 01 tẩu hút tự tạo bằng thuỷ tinh đựng tinh thể mầu trắng giám định sơ bộ là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng: 0, 119 gam.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang , phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 04 giờ ngày 18/4/2018, tại khu vực ngã tư đường Mễ Trì và đường Phạm Hùng, phường Mỹ Đình 1, Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Trần Lê L đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,357 gam ma túy Methaphetamine.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.
Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi gieo rắc cái chết trắng cho cộng đồng, là hiểm họa gây nên căn bệnh thế kỷ HIV – AIDS và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội.
Xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu,thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được phân tích ở trên. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tù giam cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo cũng như răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Không
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong 01túi niL mầu trắng bên trong chưa tinh thể mầu trắng giám định là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng: 0,238 gam và 01 tẩu hút tự tạo bằng thuỷ tinh đựng tinh thể mầu trắng giám định sơ bộ là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng: 0,119 gam.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Điểm s Khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Lê L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Lê L 12(Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 18/4/2018 đến ngày 27/4/2018.
Căn cứ vào Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về dân sự : Không.
Về vật chứng : Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong 01túi niL mầu trắng bên trong chưa tinh thể mầu trắng giám định là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng: 0,238 gam và 01 tẩu hút tự tạo bằng thuỷ tinh đựng tinh thể mầu trắng giám định sơ bộ là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng: 0, 119 gam. Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm theo biên bản giao, nhận vật chứng số 171, ngày 24/7/2018.
Về án phí: Bị cáo Trần Lê L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
| Nơi nhận: - Bị cáo, người liên quan; - TT lý lịch-Sở tư pháp Hà Nội; - VKSND Q. Nam Từ Liêm - VKSND thành phố Hà Nội - TAND thành phố Hà Nội - Công an quận Nam Từ Liêm - Chi cục THADS Q. Nam Từ Liêm; - Lưu HS-VP | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Kế Hiền |