- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ H TỈNH HẢI DƢƠNG --------------- Bản án số: 188/2017/HSST Ngày: 21/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trƣơng Thị Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hà Thị Thúy - Cán bộ nghỉ hƣu
2. Bà Nguyễn Thị Tƣơi - PCT MTTQ TP H.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Phương - Thƣ ký Tòa án - Toà án nhân dân thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 181/2017/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn H, sinh năm 1998;
Đăng ký hộ khẩu: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dƣơng;
Chỗ ở: Số 4 Đ, khu T, phƣờng T, thành phố H, tỉnh Hải Dƣơng;
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: 7/12;
Bố đẻ: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1975 (đang chấp hành án tại Trại giam H); Mẹ đẻ: Bà Vũ Thị T; sinh năm 1981; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình;
Tiền án, tiền sự: Chƣa;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2017, chuyển tạm giam từ ngày 23/6/2017 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt tại phiên toà.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Phạm Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Hồi 21h ngày 14/6/2017, tại khu vực điểm chờ xe bus gần chân cầu H, thuộc khu 6, phƣờng C, thành phố H, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hải Dƣơng bắt quả tang Phạm Văn H đang cất giấu trái phép trong túi quần bên phải phía trƣớc đang mặc 01 túi nilon màu trắng, kích thƣớc (2x3)cm bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, H khai nhận là ma túy tổng hợp cất giấu để sử dụng. Khi bắt giữ có sự chứng kiến của anh Trần Văn S ở khu 1 phƣờng N, thành phố H và anh Vũ Văn M ở thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dƣơng.
Quá trình điều tra Phạm Văn H khai nhận: Do nghiện chất ma túy nên khoảng 10h ngày 14/6/2017 H gặp một ngƣời thanh niên tên P (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) tại khu vực ngã tƣ Đ giao cắt với đƣờng 5A thuộc phƣờng T, thành phố H. H đƣa cho P 400.000đ để mua ma túy tổng hợp về sử dụng, P nhận tiền hẹn đến tối cùng ngày sẽ giao ma túy ở chân cầu H, thành phố H. Khoảng 20h30’cùng ngày H rủ anh Vũ Văn M ở thôn Q, xã C, huyện C đi đến cầu H chơi. Anh M đồng ý điều khiển xe mô tô biển số 34B2-600.85 của anh M chở H đến chân cầu H. Khi đến nơi H bảo anh M đứng đợi còn H xuống xe gặp P. Theo chỉ dẫn của P, H đi đến nhà chờ xe bus gần chân cầu H lấy ở dƣới chân ghế đƣợc 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng giấu vào trong ngƣời rồi đi ra chỗ anh M đứng đợi thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hải Dƣơng phát hiện bắt quả tang thu giữ trong túi quần bên phải phía trƣớc H đang mặc 01 túi nilon màu trắng, kích thƣớc (2x3)cm bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng H khai là ma túy tổng hợp cất giấu để sử dụng; thu giữ trong ống tay áo H đang mặc 01 con dao bằng kim loại dài 60cm, bản rộng 5cm một đầu nhọn, lƣỡi dao sắc có chuôi bằng kim loại màu trắng trƣớc sự chứng kiến của anh Trần Văn S và anh Vũ Văn M.
Tại bản kết luận giám định số 3047/C54(TT2) ngày 28/7/2017 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục Cảnh sát, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong gói nilon gửi giám định là ma túy, có trọng lƣợng 1,915 gam loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Vật chứng: Đối với 1,518 gam Methamphetamine và vỏ bao gói đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 3047/C54(TT2) là mẫu vật hoàn lại sau giám định đƣợc quản lý tại kho vật chứng của Công an thành phố H để chờ xử lý theo quy định của pháp luật. Cơ quan điều tra - Công an thành phố H đã trả lại 01 con dao bằng kim loại dài 60cm, bản rộng 5cm một đầu nhọn, lƣỡi dao sắc có chuôi bằng kim loại màu trắng cho Phạm Văn H (bà Lê Thị K nhận thay).
Tại bản cáo trạng số 184/VKS-HS ngày 01/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình nhƣ tại Cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 15 (Mƣời lăm) đến 18 (Mƣời tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/6/2017; Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 1,518 gam Methamphetamine và vỏ bao gói đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 3047/C54 (TT2) là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Viện khoa học hình sự -Bộ công an; Về án phí: áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo.
XÉT THẤY:
Lời khai của bị cáo Phạm Văn H tại phiên toà phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21h ngày 14/6/2017, tại khu vực điểm chờ xe bus gần chân cầu H, thuộc khu 6, phƣờng C, thành phố H, Phạm Văn H đang cất giấu trái phép 1,915 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hải Dƣơng phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc ma túy là chất gây nghiện có tác hại lớn không chỉ đến sức khỏe con ngƣời mà nó còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Việc bị cáo cất giấu trái phép 1,915 gam Methamphetamine trong ngƣời để sử dụng trái phép là vi phạm pháp luật nhƣng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện và ý thức coi thƣờng pháp luật, bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại khoản 1 Điều 194 BLHS. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đó là tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Theo quy định tại khoản 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, hƣớng dẫn về việc áp dụng các qui định có lợi cho ngƣời phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. (Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 có khung hình phạt từ 2 năm - 7 năm tù, theo quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 01 năm - 05 năm tù). HĐXX sẽ xem xét áp dụng phần hình phạt có lợi theo qui định của BLHS năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế bản thân không có nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 1,518 gam Methamphetamine và vỏ bao gói đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 3047/C54 (TT2) là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Viện khoa học hình sự -Bộ công an. Xét ma túy là vật cấm lƣu hành; 01 vỏ bao gói mẫu là vật không có giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy theo qui định.
Đối với đối tƣợng đã bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn H, do H tự khai ngƣời đó tên là P. H khai không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của ngƣời này. Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đang tiến hành xác minh, khi nào làm rõ đƣợc nhân thân lai lịch và hành vi vi phạm sẽ có hình thức xử lý sau.
Xét 01 con dao bằng kim loại dài 60cm, bản rộng 5cm một đầu nhọn, lƣỡi dao sắc có chuôi bằng kim loại màu trắng, bị cáo có khai nhận mang theo ngƣời để phòng thân. Tuy nhiên, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, đồng thời theo qui định của Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 thì con dao nói trên không phải là vũ khí. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã trả lại cho Phạm Văn H (do bà Lê Thị K mẹ bị cáo ký nhận tại bút lục số 43).
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/6/2017.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng;
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 1,518 gam Methamphetamine và vỏ bao gói đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 3047/C54 (TT2) là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Viện khoa học hình sự -Bộ công an. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H ngày 08/9/2017)
4. Về án phí: áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000đ án phá hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo Phạm Văn H đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/9/2017)./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND Tp H; - Công an Tp H; - Trại tạm giam thuộc CA tỉnh HD; - Chi cục THADS TPH; - Sở tư pháp H; - Bị cáo; - Lưu VP; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trƣơng Thị Tố Uyên |