vanban.org

Bản án 187

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Thị Phương T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” .

Về điều khoản áp dụng và hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Cao Thị Phương T 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cao Thị Phương T Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài li…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Thị Phương T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 187/2023/HSST
Ngày: 02/08/2023

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Vương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Tuấn

Bà Lê Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa : Bà Nguyễn Phương Anh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Đào Xuân Thắng – Kiểm sát viên

Ngày 02/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 152/2023/HSST ngày 31 tháng 05 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2023/QĐXXST-HS ngày 03/7/2023 đối với bị cáo:

Cao Thị Phương T, tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; sinh năm: 1991; ĐKHKTT: cụm 4, xã Tân Hội, huyện Đ , thành phố H ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Bố đẻ: Cao Văn T sinh năm 1965; Mẹ đẻ: Trần Thị L , sinh năm: 1970; Chồng: Nguyễn Văn H , sinh năm 1995; Con: Có 02 con (lớn sinh năm 2018; nhỏ sinh năm 2021). Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 02/2019, Cao Thị Phương T, vừa mới sinh con nhỏ đang trong quá trình nghỉ chế độ thai sản tại nhà. Lúc này do chưa có căn cước công dân để đi làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con của mình, nên T đã nảy sinh ý định lên mạng xã hội đặt mua căn cước công dân giả mang tên mình, để đi làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con. Thực hiện ý định này, T sử dụng tài khoản zalo liên kết số điện thoại 0985.671.120 (T không nhớ tên tài khoản) vào mục tìm kiếm và tìm từ khóa “hỗ trợ làm thẻ căn cước nhanh”. Trong các kết quả tìm kiếm có hiện ra một vài số điện thoại liên hệ qua zalo, T chọn một số bất kỳ rồi nhắn tin để đặt mua căn cước công dân giả. Trong cuộc nói chuyện với tài khoản zalo làm căn cước nhanh (do thời gian đã lâu nên T không nhớ tên Zalo này tên gì), T được báo giá là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), do giá quá cao nên T không làm. Khoảng 2 ngày sau, zalo này chủ động nhắn tin lại cho T và báo giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). T đồng ý và gửi ảnh chứng minh thư 9 số, gửi thông tin địa chỉ nơi ở hiện tại, gửi ảnh thẻ 3x4 của T vào zalo trên để làm căn cước công dân. Vài ngày sau, T nhận được căn cước công dân số: 001132167430 mang tên Cao Thị Phương T, do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/02/2019, từ một người nam giới không quen biết giao hàng công nghệ giao đến tận nhà ở cụm 4, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Nội. Sau khi nhận được căn cước công dân trên kiểm tra thấy đúng tên, địa chỉ trong căn cước công dân, T đã thanh toán số tiền 500.000 đồng cho người nam giới. Sau khi có căn cước công dân trên, T đã liên tục sử dụng căn cước công dân này để thực hiện các thủ tục, giao dịch cụ thể:

Ngày 09/3/2021 Cao Thị Phương T đã làm tờ khai đăng ký khai sinh gửi UBND xã Tân Hội, huyện Đan Phượng yêu cầu đăng ký khai sinh cho con mình là Nguyễn Anh Minh; sau đó phô tô Căn cước công dân giả làm tờ kèm theo tờ khai và đến UBND xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Nội để làm thủ tục khai sinh cho con mình. Do không phát hiện ra căn cước công dân của T là giả nên ngày 12/3/2021 UBND xã Tân Hội đã cấp giấy khai sinh cho con của T là cháu: Nguyễn Anh Minh (trong mục họ, tên người đi khai sinh: Cao Thị Phương T, ghi: thẻ căn cước công dân số 001132167430 mang tên Cao Thị Phương T, do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 28/02/2019).

Ngày 05/10/2018 T mở tài khoản ngân hàng số 100869078615 tại ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank). Sau khi có căn cước công dân giả, để thuận tiện khi giao dịch, thì ngày 19/4/2021 Cao Thị Phương T đã tiếp tục sử dụng Căn cước công dân giả trên, đến trực tiếp ngân hàng để làm thủ tục thay đổi thông tin cá nhân của tài khoản trên. Do ngân hàng khi tiếp nhận không phát hiện ra căn cước công dân giả, nên đã tiếp nhận và giải quyết thay đổi đăng ký thông tin cá nhân cho tài khoản trên của T ở mục thông tin cá nhân phần căn cước công dân thay đổi, ghi: căn cước công dân số 001132167430 mang tên Cao Thị Phương T, do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 28/02/2019. Sau đó T đã sử dụng số tài khoản với thông tin cá nhân trên thực hiện nhiều giao dịch nhận, chuyển khoản, thanh toán.

Ngày 09/8/2021 Cao Thị Phương T tiếp tục sử dụng Căn cước công dân giả mang đến Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hoài Đức để đăng ký mở tài khoản thanh toán và dịch vụ tại ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hoài Đức. Do Ngân hàng không phát hiện ra được căn cước công dân của Thủy là giả nên đã tiếp nhận hồ sơ và đã duyệt cấp cho T được số tài khoản ngân hàng mang tên Cao Thị Phương T với thông tin cá nhân của T như trong căn cước công dân giả.

Khoảng 09 giờ 00 ngày 07/01/2022, Cao Thị Phương T lại tiếp tục mang căn cước công dân giả trên đến Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công an TP. Hà Nội (địa chỉ: số 6 Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội) để làm thủ tục cấp mới hộ chiếu. Trong quá trình làm thủ tục, T xuất trình Căn cước công dân số: 001132167430 mang tên Cao Thị Phương T, do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 28/02/2019. Do nghi ngờ T sử dụng Căn cước công dân giả, nên Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công an TP. Hà Nội, đã bàn giao cho Công an phường Quang Trung giải quyết. Tại Cơ quan điều tra, Cao Thị Phương T đã khai nhận như nội dung vụ án nêu trên.

- Vật chứng thu giữ: 01 (một) Căn cước công dân số 001132167430 đề tên Cao Thị Phương T, do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 28/02/2019, thu giữ của Cao Thị Phương T (sinh năm: 1991; Trú tại: Cụm 4, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Nội).

- Ngày 16/3/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận Hà Đông ra Quyết định trưng cầu giám định số 170/QĐ-CQĐT(ĐTTH) gửi Viện Khoa học hình sự Bộ Công an giám định Căn cước công dân số 001132167430 tên Cao Thị Phương T, cấp ngày 28/02/2019. Ngày 20/6/2022, Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an ra Kết luận giám định số 1630/KL-KTHS kết luận: Căn cước công dân số 001132167430 mang tên Cao Thị Phương T, cấp ngày 28/02/2019 (ký hiệu A) là Căn cước công dân giả.

- Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại UBND xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội thu giữ bản sao hồ sơ đăng ký khai sinh của Nguyễn Anh Minh (sinh ngày:16/02/2021 - là con trai ruột của T). Kết quả xác minh, nghiên cứu hồ sơ khai sinh của Nguyễn Anh M thể hiện: T sử dụng Căn cước công dân giả để đăng ký khai sinh cho Minh, trong hồ sơ do UBND xã Tân Hội, Đan Phượng, Hà Nội, cung cấp có bản photo căn cước công dân giả trên của T.

- Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại ngân hàng BIDV chi nhánh Hoài Đức, Hà Nội, thu bản sao hồ sơ mở tài khoản thanh toán tên Cao Thị Phương T. Kết quả xác minh, nghiên cứu hồ sơ mở tài khoản ngân hàng của T thể hiện: T sử dụng Căn cước công dân giả để đăng ký mở tài khoản ngân hàng, trong hồ sơ do ngân hàng BIDV chi nhánh Hoài Đức, Hà Nội, cung cấp có bản photo căn cước công dân giả trên của T.

- Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh Tây Hà Nội, thu bản sao thu bản sao hồ sơ mở tài khoản thanh toán tên Cao Thị Phương T. Kết quả xác minh, nghiên cứu hồ sơ do ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh Tây Hà Nội cung cấp: T sử dụng Căn cước công dân giả để đăng ký thay đổi thông tin tài khoản ngân hàng, trong hồ sơ có bản photo chứng minh nhân dân 9 số của T khi mở tài khoản và bản photo căn cước công dân giả trên của T khi thay đổi thông tin cá nhân.

- Ngày 09/8/2022, Cơ quan điều tra ra Yêu cầu số 357 gửi Phòng an ninh mạng và phòng chống tôi phạm sử dụng công nghệ cao (PA05) - Công an thành phố Hà Nội, yêu cầu cung cấp thông tin tài khoản zalo liên kết số điện thoại 0985.671.120 và dữ liệu tin nhắn của tài khoản zalo trên trong khoảng thời gian tháng 02/2019. Ngày 22/8/2022, Phòng PA05 Công an TP. Hà Nội, có công văn số 1398/PA05-Đ3 cung cấp: có thông tin hiển thị tài khoản zalo liên kết số điện thoại 0985.671.120: Nguyễn Mai Đạt, sinh ngày 27/7/1990, ngoài ra không có thông tin gì khác.

- Ngày 29/8/2022, Cơ quan điều tra ra Yêu cầu số 400/YC-ĐTTH về việc yêu cầu Công ty cổ phần VNG xác minh, cung cấp thông tin địa chỉ đăng ký tài khoản mạng xã hội zalo, nội dung các tin nhắn của tài khoản zalo được đăng ký bằng số điện thoại 0985.671.120 tại thời điểm tháng 02/2019. Ngày 31/8/2022, Công ty cổ phần VNG có văn bản số 796/2022/CV-VNG cung cấp: Bộ phận kỹ thuật không lưu thông tin về tài khoản zalo liên kết số điện thoại 0985671120 như trong công văn Yêu cầu của Cơ quan điều tra.

- Ngày 03/10/2022, Cơ quan điều tra ra lệnh thu giữ điện tín số 128 đối với số điện thoại 0985.671.120 của Cao Thị Phương Thuý. Ngày 14/11/2022, Tập đoàn Công nghiệp viễn thông quân đội đã cung cấp tại Công văn số 2376/CNVTQĐ-TTKT, nội dung: Trong thời gian từ ngày 15/02/2019 đến hết ngày 15/3/2019, số điện thoại 0985.671.120 là thuê bao trả trước, đăng ký tên: Hà Thị Nga, ngày sinh: 29/6/1995, địa chỉ: Dân Tiến, Võ Nhai, Thái Nguyên; số chứng minh thư: 091833886, ngày cấp: 18/11/2011, nơi cấp: Thái Nguyên. Tại thời điểm kiểm tra dữ liệu (ngày 14/11/2022), trên hệ thống không còn lưu danh sách cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn, số Imei của số điện thoại: 0985671120 từ ngày 15/02/2019 đến hết ngày 15/3/2019. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với chị Nga, chị Nga cung cấp: Chị Nga có quen biết với chị Cao Thị Phương T, chị Nga có đứng tên đăng ký chủ thuê bao số điện thoại 0985.671.120 hộ chị T. Số điện thoại 0985.671.120 và tài khoản zalo liên kết số điện thoại trên là do chị T sử dụng, chị Nga không sử dụng và không có liên quan gì.

Tại bản cáo trạng số 150/2023/CT-VKS ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, truy tố bị cáo Cao Thị Phương T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xem xét, xét xử mức án thấp nhất cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã giữ nguyên quan điểm truy tố như trong bản cáo trạng, sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Thị Phương T từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng; Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hà Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng cuối tháng 02/2019, Cao Thị Phương T sử dụng tài khoản zalo của mình liên kết số điện thoại 0985.671.120 vào mục tìm kiếm, tìm từ khóa “hỗ trợ làm thẻ căn cước nhanh”, T nhắn tin với một tài khoản zalo đặt làm căn cước công dân giả, với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). T dùng điện thoại của mình gửi ảnh chứng minh thư 9 số, gửi thông tin cá nhân, địa chỉ nơi ở hiện tại, gửi ảnh thẻ 3x4 của mình vào zalo trên để làm căn cước công dân. Vài ngày sau, T nhận được 01 căn cước công dân số: 001132167430 mang tên Cao Thị Phương T, do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/02/2019 từ người nam giới không quen biết giao hàng công nghệ giao tại nhà ở Cụm 4, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Nội. T đã thanh toán 500.000 đồng tiền mặt cho người nam giới giao hàng. Sau khi nhận được căn cước công dân trên, T đã sử dụng Căn cước Công dân giả để thực hiện các thủ tục hành chính cho bản thân mình như: Đăng ký khai sinh cho con; thay đổi thông tin tài khoản tại ngân hàng; đăng ký mở tài khoản tại ngân hàng…. khoảng 09 giờ 00 ngày 07/01/2022, Cao Thị Phương T lại tiếp tục mang căn cước công dân giả trên đến Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công an TP. Hà Nội (địa chỉ: số 6 Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội), để làm thủ tục cấp mới hộ chiếu thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng là 01 căn cước công dân qua giám định kết luận là căn cước công dân giả.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước về tài liệu của cơ quan, tổ chức, gây mất trật tự trị an trên địa bàn quận Hà Đông. Bản thân bị cáo có trình độ, có nhận thức, song vẫn vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lầ đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó sẽ áp dụng mức hình phạt như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Đối với 01 chiếc căn cước công dân giả số: 001132167430 mang tên Cao Thị Phương T, hiện đang lưu trữ trong hồ sơ vụ án, không có giá trị, nên tiếp tục lưu giữ làm tài liệu chứng cứ của vụ án.

. Về các vấn đề khác:

Đối với đối tượng làm giả Căn cước công dân cho T: Cơ quan điều tra đã áp dụng triệt để các biện pháp điều tra nhưng không có tài liệu xác định nhân thân đối tượng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Thị Phương T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” .

2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Cao Thị Phương T 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Cao Thị Phương T cho Ủy ban nhân dân xã T , huyện Đ , thành phố H , để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Cao Thị Phương T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ