vanban.org

Bản án 187/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 18/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: - Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Bị cáo Chu Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 187/2022/HSST Tuyên án 18/10/2022
Phúc thẩm Bản án 37/2023/HS-PT Tuyên án 10/01/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN T - CHU ANH T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: - Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2022/HSST
Ngày: 18/10/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang T

Ông Nguyễn Hải Hà

Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân quận

Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành

phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 170/2022/TLST-HS ngày 06/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 383/2022/QĐXXST-HS ngày 07/10/2022, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T; Sinh năm: 1980; Nơi sinh: H; HKTT: Tổ 29 phường V,

quận H, thành phố H; Nơi ở: Tổ 9 phường V, quận H, thành phố H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Tống Thị T; Vợ: Bùi Phương H (Đã ly hôn năm 2018); Con: 01 con sinh năm 2015; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt ngày: 28/6/2022; Có mặt.

2. Chu Anh T; Sinh năm: 1972; Nơi sinh: H; HKTT và nơi ở: Số 11 ngách

121/16 phố N, phường P, quận B, thành phố H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Văn Q và bà: Lê Thị N; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án; Nhân thân: Bản án số: 50/2011/HSST ngày 25/3/2011 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố H xử phạt 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ra trại ngày 18/01/2013 (đã xóa án tích); Bị cáo bị bắt ngày: 28/6/2022; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 28/6/2022, Tổ công tác của Đội 4, phòng Cảnh sát điều

tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố H phối hợp với Công an phường P đang làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ 27 N, phường P, quận B, thành phố H phát hiện Nguyễn Văn T đang điều khiển xe máy Honda Vision BKS: 29H1-76426 có biểu hiện nghi vấn nên đã mời T về trụ sở Công an phường P để làm việc. Qua kiểm tra, Tổ công tác thu giữ tại túi áo ngực phía trước bên trái của T 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng. T khai nhận là ma túy loại heroin vừa mua tại nhà của T ở phố N, phường P, quận B, thành phố H, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực phố T, phường P, quận B,

thành phố H, Tổ công tác của Đội 4 tiếp tục phát hiện Đỗ Trọng T (sinh năm 1982, nơi ở: Số 2 H, phường N, quận B, thành phố H) điều khiển xe máy Honda Blade BKS 29B1-70682 có biểu hiện nghi vấn nên đã T hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác thu giữ 01 gói giấy màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng bên trong túi quần phía trước T đang mặc. Thêm khai nhận là ma túy loại heroin vừa mua tại nhà T ở phố Nghĩa Dũng, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra xác định: Do bản thân nghiện ma túy nên Chu Anh T

thường xuyên mua ma túy về sử dụng và bán lại cho đối tượng nghiện khác để kiếm lời. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/6/2022, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà đến đầu ngõ 71 T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội để mua ma túy. Tại đây, T đã mua 01 gói nilong bên trong có heroin với giá 600.000 đồng của người phụ nữ tên C (không rõ lai lịch cụ thể). Mua được ma túy, T mang về nhà lấy một ít ra sử dụng. Sau đó, T lấy một phần ra chia thành 02 gói nhỏ, gói bằng giấy màu vàng rồi cất cùng 02 túi nilong màu trắng đều chứa ma túy vào trong tủ kê ở phòng ngủ tầng 1. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 28/6/2022, T đang ở nhà thì có Nguyễn Văn T đến hỏi mua ma túy. T đồng ý và bán cho T 01 gói heroin với giá 200.000 đồng.

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, T nhận được cuộc gọi điện thoại từ số

0987553082 của Thêm gọi vào số điện thoại 033855922 của T hỏi mua ma túy thì T đồng ý. Một lúc sau, Thêm đến nhà T. Tại đây, T bán cho Thêm 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/6/22022, Tổ công tác của Đội 4, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố H khám xét khẩn cấp tại nhà T, thu giữ được số heroin còn lại T đang cất giữ tại nhà.

* Tang vật thu giữ:

- Thu giữ của Chu Anh T trong quá trình khám xét khẩn cấp:

+ 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng thu giữ trong kệ

tủ phòng ngủ tầng 1;

+ 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng thu giữ trong túi

áo khoác treo trên tường trong phòng ngủ tầng 1;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel có gắn sim số 0338559022;

+ Số tiền 500.000 đồng;

- Thu giữ của Nguyễn Văn T:

+ 01 gói giấy bạc màu vàng đường kính khoảng 01cm bên trong chứa chất

bột màu trắng;

+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision mang BKS: 29H1 – 764.26, SK:

078656, SM: 0078695;

+ 01 điện thoại di động màu xám đen nhãn hiệu Itel, có gắn sim số

0924387998;

+ Số tiền 3.300.000 đồng;

- Thu giữ của Đỗ Trọng T:

+ 01 gói giấy màu vàng bên trong có chất bột màu trắng;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo có gắn sim 1: 0987553082, sim 2:

0925309173;

+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Blade mang BKS 29B1-70682, SK: 122416,

SM: 0249003;

Tại bản kết luận giám định số 4727/KL-KTHS ngày 06/7/2022/2022 của

Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H:

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng (thu giữ của

Nguyễn Văn T) là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,119 gam;

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng (thu giữ của Đỗ

Trọng T) là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,082 gam;

- Chất bột màu trắng bên trong 02 túi nilông (thu giữ của Chu Anh T) đều là

ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,876 gam.

Đối với Đỗ Trọng T: Hành vi tàng trữ trái phép 0,082 gam ma túy ngày

28/6/2022 không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Công an quận Ba Đình đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Đỗ Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và trao trả Thêm 01 xe máy nhãn hiệu Honda Blade mang BKS 29B1 – 706.82 và 01 chiếc điện thoại di động.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision mang BKS: 29H1 – 764.26, SK:

078656, SM: 0078695 thu giữ của Nguyễn Văn T, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn T (sinh năm 1946, nơi ở: Tổ 26 phường V, quận H, thành phố H) là bố của Nguyễn Văn T. Ông T không biết việc T mượn xe máy của ông T để đi mua ma túy về sử dụng. Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho ông Nguyễn Văn T.

Đối với đối tượng tên “C” bán ma túy cho Chu Anh T vào ngày 27/6/2022,

Cơ quan điều tra đã T hành điều tra nhưng không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Bản cáo trạng số 164/CT-VKS ngày 30/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân

quận B truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, truy tố bị cáo Chu Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh

luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và khai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 28/6/2022, tại địa chỉ số 11 ngách 121/16 N, phường P, quận B, thành phố H, Chu Anh T có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,119 gam cho Nguyễn Văn T. Khoảng 08 giờ cùng ngày, tại địa chỉ trên, Chu Anh T tiếp tục bán 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,082 gam cho Đỗ Trọng T. Ngoài ra, còn thu giữ tại nơi ở của Chu Anh T 02 gói ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,876 gam, mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời.

Khoảng 08 giờ ngày 28/6/2022, tại khu vực đầu ngõ 27 N, phường P, quận

B, thành phố H, Nguyễn Văn T đang tàng trữ trái phép 0,119 gam ma túy loại Heroine thì bị Tổ công tác của Đội 4, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố H phối hợp với Công an phường P phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái

phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

Hành vi của bị cáo Chu Anh T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép

chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Chu Anh T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

Đề nghị xử phạt đối với từng bị cáo như sau:

- Bị cáo Nguyễn Văn T: Đề nghị từ 15 đến 18 tháng tù.

- Bị cáo Chu Anh T: Đề nghị từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 túi nilong màu trắng bên trong chứa 0,876 gam ma

túy Heroine thu giữ của Chu Anh T; 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa 0,119 gam ma túy Heroine thu giữ của Nguyễn Văn T; 01 gói giấy màu vàng bên trong chứa 0,082 gam ma túy Heroine thu giữ của Đỗ Trọng T.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại di động

nhãn hiệu Masstel có gắn sim số 0338559022 thu giữ của Chu Anh T và số tiền 3.300.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel có gắn sim số 0924387998 thu giữ của Nguyễn Văn T.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T và Chu Anh T đã khai nhận toàn bộ

hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt trước khi Hội đồng xét xử nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi Nguyễn Văn T và Chu Anh T đã khai

nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là thống nhất với nhau, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H, cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 28/6/2022, tại địa chỉ số 11 ngách 121/16 N, phường P, quận B, thành phố H, Chu Anh T có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,119 gam cho Nguyễn Văn T. Khoảng 08 giờ cùng ngày, tại địa chỉ trên, Chu Anh T tiếp tục bán 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,082 gam cho Đỗ Trọng T. Ngoài ra, còn thu giữ tại nơi ở của Chu Anh T 02 gói ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,876 gam, mục đích sử dụng và bán lại cho người khác hưởng lời.

Khoảng 08 giờ ngày 28/6/2022, tại khu vực đầu ngõ 27 N, phường P, quận

B, thành phố H, Nguyễn Văn T đang tàng trữ trái phép 0,119 gam ma túy loại Heroine thì bị Tổ công tác của Đội 4, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố H phối hợp với Công an phường P phát hiện bắt quả tang.

Hành vi trên đây của Nguyễn Văn T phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Hành vi trên đây của Chu Anh T phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm,

nó hủy hoại sức khỏe của con người, là nguồn gốc phát sinh ra nhiểu loại tội phạm khác trong xã hội, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình có người thân mắc nghiện. Vì những tác hại của ma túy nên Đảng và Nhà nước ta cũng như các Quốc gia khác trên thế giới đều kiên quyết bài trừ ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bản thân bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, song do nghiện ma túy, thích hưởng lời bất chính và coi thường pháp luật, nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, mà còn tiếp tay cho tệ nạn ma túy ngày càng phát triển, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và phải có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn T là một công dân song không chịu tu dưỡng rèn luyện

đạo đức. Nhân thân mặc dù chưa có tiền án, tiền sự, song do coi thường pháp luật nên đã cố ý tàng trữ ma túy trong người, mục đích để sử dụng.

Bị cáo Chu Anh T là đối tượng nghiện ma túy, nhận thức được tác hại của

ma túy nhưng vẫn nhiều lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho nhiều con nghiện khác nhau, trong đó có bị cáo T và tối tượng Thêm đã mua ma túy của bị cáo và bị bắt. Nhân thân bị cáo T đã có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặc dù hết thời hiệu đương nhiên được xóa án tích song không sửa đổi lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Lần này bị cáo bán ma túy nhiều lần, đây là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nên xét xử bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác

dụng giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xét đến tại phiên

tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải nên tòa áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

Hội đồng xét xử quyết định tạm giam các bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn phải chịu thêm

hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 các Điều 249 và Điều 251 Bộ luật hình sự. Song xét thấy các bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập nên tha miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.

Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 túi nilong màu trắng bên trong chứa 0,876 gam ma

túy Heroine thu giữ của Chu Anh T; 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa 0,119 gam ma túy Heroine thu giữ của Nguyễn Văn T; 01 gói giấy màu vàng bên trong chứa 0,082 gam ma túy Heroine thu giữ của Đỗ Trọng T.

- Đối với số tiền 500.000 đồng cơ quan điều tra thu của bị cáo T, tại phiên

tòa bị cáo T khai 400.000 đồng là tiền bán ma túy mà có nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ Nhà nước; còn 100.000 đồng là tiền của bị cáo nên áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền 3.300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T, tại phiên tòa bị

cáo khai là tiền của bị cáo nên áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel có gắn sim số 0338559022

(thu giữ của Chu Anh T) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel có gắn sim số 0924387998 (thu giữ của Nguyễn Văn T), các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước theo Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo

quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: - Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Bị cáo Chu Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Căn cứ: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều

38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

28/6/2022.

Căn cứ: Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều

38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Chu Anh T 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022.

- Căn cứ Điều 106, 135, khoản 2 Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Căn cứ điểm 6.1.2 mục b Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày

25/11/2015 của quốc Hội. Nghị quyết số 326/2013/UBTVQH 14 ngày 30/12/2013 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao niêm phong bên trong có 0,876 gam ma

túy Heroine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Chu Anh T; 01 (một) bao niêm phong bên trong có 0,119 gam ma túy loại Heroine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Văn T; 01 (một) bao niêm phong bên trong có 0,082 gam ma túy Heroine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Trọng T (theo biên bản giao vật chứng số 06 ngày 17/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận B).

+ Tịch thu: Số tiền 3.800.000 đồng (thu giữ 500.000 đồng của bị cáo T và

3.300.000 đồng của bị cáo T) (theo Giấy nộp tiền ngày 13/10/2022 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam– Chi nhánh B); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng (thu giữ của Chu Anh T) và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Văn T) (theo biên bản giao vật chứng số 06 ngày 17/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận B) để sung quỹ Nhà nước.

- Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ