- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 187/2022/HS-ST Ngày: 15 - 9 - 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa.
2/ Ông Nguyễn Công Chiếm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 145/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 862/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T (tên gọi khác: T1 mập); giới tính: Nữ; sinh năm: 1978, tại: Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở: phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Văn L, con bà Phan Thị C; có chồng : Nguyễn Tự C1, có 01 con sinh năm 2008.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 13/8/2020, bị Công an phường Đông Hưng Thuận, Quận 12 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Bán bảng đề cho việc đánh lô đề”, bị phạt 1.500.000 đồng, đã nộp phạt xong ngày 14/8/2020.
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Chị Nguyễn Thị N; sinh năm 1983; địa chỉ: phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2/ Chị Vũ Thị Hoàng O; sinh năm 1973; địa chỉ: xã Hắc Dịch, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (vắng mặt)
3/ Chị Trần Thị Xuân T2; sinh năm 1967; địa chỉ: phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
4/ Chị Nguyễn Thị L1; sinh năm 1979; địa chỉ: phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 18/02/2021, Công an phường Đông Hưng Thuận, Quận 12 tuần tra phát hiện tại quán cà phê ĐN ở phường Đông Hưng Thuận có: Nguyễn Thị N, Vũ Thị Hoàng O, Trần Thị Xuân T2 và Nguyễn Thị T đang đánh bài tiến lên thắng thua bằng tiền với số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 575.000 đồng.
Các đối tượng khai nhận đến quán uống nước thì nhìn thấy bộ bài tây không biết của ai đang để trên bàn nên rủ nhau đánh bài tiến lên thắng thua bằng tiền, quy định người thắng nhất ăn của người thua nhất 20.000 đồng; người thắng nhì ăn của người thua nhì 10.000 đồng.
Nguyễn Thị N mang theo 100.000 đồng để đánh bạc, thua 50.000 đồng, tạm giữ tại chiếu bạc 50.000 đồng.
Vũ Thị Hoàng O mang theo 200.000 đồng để đánh bạc, thua 70.000 đồng, tạm giữ tại chiếu bạc 130.000 đồng.
Trần Thị Xuân T2 mang theo 120.000 đồng để đánh bạc, thắng được 180.000 đồng, tạm giữ tại tại chiếu bạc số tiền 300.000 đồng.
Nguyễn Thị T mang theo 155.000 đồng để đánh bạc, thua 60.000 đồng, tạm giữ số tiền tại chiếu bạc 95.000 đồng.
Đối với Nguyễn Thị N, Vũ Thị Hoàng O, Trần Thị Xuân T2, tuy có hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc, gá bạc” nên Công an Quận 12 đã xử phạt hành chính.
Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng
01 bộ bài tây 52 lá;
Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 575.000 đồng là tiền sử dụng để đánh bạc. Trong đó 480.000 đồng thu giữ của N, O và T đã được xử lý theo các Quyết định xử phạt hành chính đối với N, O và T. Hiện đang tạm giữ 95.000 đồng thu giữ của T.
04 cái ghế khung bằng gỗ đan bằng nhựa và 01 cái bàn khung bằng gỗ đan bằng nhựa, mặt trên bằng kính. Qua xác minh đây là tài sản của bà Nguyễn Thị L1, chủ quán cà phê ĐN. Trong quá trình trình điều tra xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý, Cơ quan điều tra Công an Quận 12 đã trả lại số tài sản này cho bà L1.
Tại Cáo trạng số 128/CT-VKS ngày 01/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Thị T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa,
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù theo khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, ngày 18/02/2021, tại quán cà phê ĐN ở phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị T đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài tiến lên thắng thua bằng tiền với Nguyễn Thị N, Vũ Thị Hoàng O, Trần Thị Xuân T thì bị bắt quả tang, tổng số tiền thu giữ sử dụng vào việc đánh bạc là 575.000 đồng. Ngày 13/8/2020 Nguyễn Thị T đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi bán bảng đề cho việc đánh lô đề (là một trong những hành vi đánh bạc trái phép) chưa được xóa tiền sự thì T lại tiếp tục có hành vi đánh bạc trái phép. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luật T phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với Nguyễn Thị N, Vũ Thị Hoàng O, Trần Thị Xuân T cùng tham gia đánh bạc với T. N, O và T không có tiền án tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc”, Cơ quan điều tra Công an Quận 12 đã xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập giải quyết.
Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), tiền sự về hành vi bán bảng đề cho việc đánh lô đề của bị cáo đã được làm căn cứ để định tội đối với bị cáo, hiện tại chồng bị cáo đang bị bệnh cần người chăm sóc nên Hội đồng xét xử nhận thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo với một thời gian thử thách nhất định và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự được quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đủ để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.
Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Các vật chứng Cơ quan điều tra đã xử lý thì không đề cập giải quyết.
01 bộ bài tây 52 lá là công cụ phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Số tiền 95.000 đồng là số tiền dùng để đánh bạc nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Theo Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây 52 lá.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 95.000 (chín mươi lăm nghìn) đồng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 110/QĐ-VKS ngày 01/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12)
Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Đã giải thích chế định án treo và nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
| Nơi nhận: - TAND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Quận 12; (2) - Chi cục THADS Quận 12; (1) - Sở Tư pháp Tp.Hồ Chí Minh; (1) - Phòng hồ sơ NVCS (PC.53); (1) - Thi hành án hình sự; (6) - Bị cáo; (1) - Những người tham gia tố tụng khác; (3) - Lưu VT, hồ sơ vụ án. (2) (19) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Bá Hiệp |