vanban.org

Bản án 187/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 13/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận háng cáo xin hư ng án treo của bị cáo Trần Văn Đ.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận háng cáo xin hư ng án treo của bị cáo Trần Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2022/HS-PT
Ngày: 13-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

V i thành ph n H i đ ng x t x phúc th m g m có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ng Trần Phước Hội

Các Thẩm phán: ng Lê Hồng Nước

ng Phạm Minh Tùng

- Th ký phiên tòa: Bà Lâm Hồng Diễm - Thư Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Ki m sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2022, tại Trụ s Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp m phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ l số: 122/2022 HS-PT ngày 21 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Trần Văn Đ. Do c háng cáo của bị cáo Trần Văn Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2022 HS-ST ngày 22 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện L.

- Bị cáo háng cáo: Trần Văn Đ, sinh năm: 1966, tại Đồng Tháp; Tên gọi hác: Đ; Nơi cư trú: ấp Long H, xã Long H, huyện L, t nh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 5 12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B (chết) và bà Phạm Thị H (chết); C vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1962, c 03 người con lớn nhất 24 tuổi, nhỏ nhất 17 tuổi; Tiền sự, tiền án: không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi hỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại: ấp Long H, xã Long H, huyện L, t nh Đồng Tháp. (Bị cáo c mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại, không kháng cáo và Viện kiểm sát không có kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do c mẫu thuẫn về việc tranh chấp đất đai giữa Trần Văn Đ và Trần Văn C nên vào hoảng 06 giờ 30 phút ngày 17 5 2020, Trần Văn Đ mang theo 01 cây cưa bằng im loại, lưỡi cưa dài 32cm, cán cưa bằng im loại màu trắng dài 24cm, đi từ nhà ấp Long H, xã Long H, huyện L đến vườn cây ăn trái của Trần Văn C ấp Long H, xã Long H, huyện L (đất Trần Văn C trồng cây c nguồn gốc là của ông Trần Văn B là cha của Trần Văn C và Trần Văn Đ, ông B đã chết, có di chúc đ phần đất này lại cho bà Trần Thị P là chị của Trần Văn C canh tác, do bà P đã lớn tuổi nên đ đất này cho Trần Văn C sử dụng). Tại đây, Đ dùng cây cưa mang theo đ cưa ngã 14 cây cam dây trồng được 3,5 năm tuổi, đang cho trái; 02 cây bư i da xanh trồng được 3,5 năm tuổi, đang cho trái và 09 cây qu t đường trồng được 09 tháng tuổi của Trần Văn C, sau đ Đ đi về nhà. Đến hoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Văn C đi thăm vườn phát hiện 14 cây cam dây, 02 cây bư i da xanh và 09 cây qu t đường của mình đã bị cưa ngã, nghi ngờ Trần Văn Đ là người thực hiện nên đã đến Cơ quan Công an tố giác.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tạm giữ:

- Của Trần Văn Đ: 01 cây cưa bằng im loại, lưỡi cưa dài 32cm, cán cưa bằng im loại màu trắng dài 24cm và c nhựa màu đen bao trên cán cưa.

- 01 bề mặt vết cắt của g c cây vị trí hiệu (1) c đường ính 8,5cm và 01 bề mặt của vết cắt của g c cây vị trí hiệu (2) c đường ính 10cm.

Tại Kết luận định giá tài sản số 72 KL-ĐGTS ngày 25 12 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L xác định giá trị thành tiền của 14 cây cam dây là 4.620.000 đồng, 02 cây bư i da xanh là 660.000 đồng và 09 cây qu t đường là 360.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 5.640.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2022/HS-ST ngày 22/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định:

Căn cứ hoản 1 Điều 178; đi m i, s hoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03 tháng 03 năm 2022, bị cáo Trần Văn Đ c đơn háng cáo với nội dung xin hư ng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên háng cáo.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện i m sát nhân dân t nh Đồng Tháp phát bi u quan đi m: Cho rằng hành vi của bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn Đ với tội danh, điều hoản và mức hình phạt nêu trên là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Án sơ thẩm đã xem xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với các bị cáo. Xét mức hình phạt 06 tháng tù giam mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo c háng cáo xin hư ng án treo với l do hoàn cảnh gia đình h hăn, bản thân là lao động chính trong gia đình, nhưng hông cung cấp tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do đ , đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận háng cáo xin hư ng án treo của bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Văn Đ.

Bị cáo hông phát bi u tranh luận mà ch xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hư ng án treo.

Trong phần tranh luận, bị cáo hông tranh luận. Tại lời n i sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hư ng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời hai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với hiện trường vụ án, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời hai của bị hại, những người làm chứng cùng các chứng cứ hác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ s đ xác định: Do c sự tranh chấp về đất đai giữa bị cáo và ông Trần Văn C nên vào ngày 17/5/2020, bị cáo đã dùng cây cưa bằng im loại, lưỡi cưa dài 32cm, cán cưa bằng im loại màu trắng dài 24cm và c nhựa màu đen bao trên cán cưa đ cưa ngã của bị hại Trần Văn C 14 cây cam dây 3,5 năm tuổi, đang cho trái; 02 cây bư i da xanh 3,5 năm tuổi, đang cho trái và 09 cây qu t đường 09 tháng tuổi, theo kết luận định giá tài sản số 72 KL-ĐGTS ngày 25 12 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L xác định giá trị thành tiền của 14 cây cam dây là 4.620.000 đồng, 02 cây bư i da xanh là 660.000 đồng và 09 cây qu t đường là 360.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 5.640.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố , hi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã trư ng thành, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, c đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật; hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hi m cho xã hội, làm ảnh hư ng đến tình hình trật tự, trị an địa phương, xâm phạm tài sản của người hác một cách trái phép, tài sản của công dân là hách th được Luật Hình sự bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm, nhưng với thức xem thường pháp luật, bị cáo cố hủy hoại tài sản của bị hại đ thỏa mãn sự tức giận.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đ về tội “hủy hoại tài sản” theo hoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hi m của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đã c cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo Đ háng cáo xin hư ng án treo nhưng không cung cấp tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do đ , Hội đồng xét xử hông chấp nhận háng cáo xin hư ng án treo của bị cáo Đ, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện của Viện i m sát tại phiên tòa đối với bị cáo Trần Văn Đ là hoàn toàn c căn cứ và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các phần hác của quyết định bản án sơ thẩm hông c háng cáo, háng nghị c hiệu lực từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Về án phí: Do háng cáo của bị cáo hông được chấp nhận nên bị cáo Trần Văn Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ đi m a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận háng cáo xin hư ng án treo của bị cáo Trần Văn Đ. Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

2. Căn cứ hoản 1 Điều 178; đi m s, i hoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135, hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, đi m b hoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm hình sự.

4. Các quyết định hác của Bản án sơ thẩm hông c háng cáo, háng nghị c hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án.

N i nh n:

Cỡ chữ