- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Trung T bị truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 187/2021/HSST Ngày: 28/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Kiều Hương.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hải và ông Nguyễn Văn Hậu.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 221/2021/HSST, ngày 30 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 292/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Trung T, tên gọi khác: không; Sinh ngày 05/01/1995; Nơi cư trú: xóm N, xã X, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Họ và tên bố: Hoàng Trung Tr (đã chết); Họ và tên mẹ: Trương Thị T, sinh năm 1971; Vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1998 (chưa đăng ký kết hôn) và có 01 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 28/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 75/2017/HSST, ngày 28/11/2017.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng đầu tháng 4 năm 2021, Hoàng Trung T bắt xe ô tô khách đi lên cửa khẩu Thông Thụ, huyện Quế Phong mục đích để mua ma túy về sử dụng. Lên đến nơi, T gặp 1 người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ và hỏi: “Anh có ma túy hồng phiến không bán cho một gói”, thì người đó trả lời “có” và nói giá 3.000.000 đồng, T đồng ý. Khoảng 15 phút sau người đó quay lại đưa cho T 01 gói nilon màu đen bên trong chứa ma túy hồng phiến, T lấy 3.000.000 đồng đưa cho người đàn ông đó và cầm gói ma túy bỏ vào túi quần rồi bắt xe về. Về đến xã K, huyện Diễn Châu, T thuê nhà nghỉ ở rồi lấy gói ma túy kiểm tra đếm được 200 viên ma túy. T lấy 5 viên sử dụng, số còn lại T chia ra làm 2 phần, 1 phần bỏ vào túi nilon màu trắng, phần còn lại bỏ vào ống nhựa C sủi rồi cất trong phòng nghỉ. Đến khoảng 15 giờ ngày 11/4/2021, T quay lại nhà nghỉ lấy số ma túy còn lại bỏ vào túi quần phía trước bên phải rồi trả phòng đi về nhà. Khi về gần đến nhà thi bị lực lượng Công an huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an xã X kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải T đang mặc 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 54 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 5,215gam (ký hiệu M1) và 01 ống nhựa hình trụ tròn dài 15cm, đường kính 03cm bên trong có chứa 141 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 13,615gam (ký hiệu M2).
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Thành lập ngày 11/4/2021 và Bản kết luận giám định số 575/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 16/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: 02 mẫu các viên nén hình tròn, màu hồng (ký hiệu M1 và M2) thu giữ của Hoàng Trung T gửi tới giám định đều là ma túy (methaphetamine), tổng khối lượng là 18,83gam.
* Việc thu giữ và xử lý vật chứng:
- 01 phong bì thư bưu điện niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa vật chứng còn lại (sau khi lấy mẫu giám định) thu giữ của bị cáo;
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Cáo trạng số 171/CT-VKS-DC, ngày 28/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Hoàng Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã đánh giá tính chất, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm g khoản 2 điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Trung T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu toàn bộ số ma túy tịch thu của bị cáo để tiêu hủy.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi thực hiện đúng như cáo trạng truy tố, nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về hoạt động “Điều tra” “Truy tố”, đồng thời đã giải thích và tạo điều kiện để bị cáo, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng và đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Về nội dung:
2.1. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như cáo trạng truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án, đã có căn cứ xác định: Vào khoảng đầu tháng 4 năm 2021, tại khu vực Cửa khẩu Thông Thụ, huyện Quế Phong bị cáo Hoàng Trung T đã mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 gói hồng phiến (tổng cộng 200 viên màu hồng) với giá 3.000.000 (ba triệu) đồng. Sau khi mua được ma túy, T trở về xã K, huyện Diễn Châu thuê nhà nghỉ và lấy 05 viên để sử dụng, số còn lại chia làm 2 phần - 01 phần cho vào túi nilon màu trắng, phần còn lại cất vào lọ nhựa hình trụ nhằm mục đích để sử dụng dần. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 11/4/2021 tại khu vực xóm N, xã X, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, khi T đang trên đường về nhà thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Thành phối hợp với Công an xã X phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy T đang cất giữ ở túi quần trước bên phải, gồm 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 54 viên nén màu hồng, và 01 ống nhựa hình trụ tròn dài 15cm, đường kính 03cm bên trong chứa 141 viên nén màu hồng. Kết luận giám định số 575/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 16/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: 195 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Hoàng Trung T đều là ma túy tổng hợp Methaphetamine, có tổng khối lượng là 18.83 gam. Hành vi của bị cáo Hoàng Trung T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 của BLHS năm 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
2.2. Vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy mà còn là căn nguyên làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội; Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy nhưng thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tình trạng người nghiện và sử dụng đồng thời nhiều loại chất ma túy ngày càng phổ biến trên địa bàn huyện. Các loại ma túy mới liên tục xuất hiện, trong đó nhiều loại mạnh, cực độc, gây tác hại nghiêm trọng cho người sử dụng. Vì thế cần phải xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
2.3. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 75/2017/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 08/9/2020, chưa được xóa án tích do đó lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình như vậy cũng đã thể hiện phần nào sự ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.
2.4. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu là phù hợp.
2.5. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy Methaphetamine 16.83gam thu giữ của Hoàng Trung T (là số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định) đựng trong phong bì thư được niêm phong theo đúng quy định; và phong bì niêm phong ban đầu. Đều là vật chứng không có giá trị sử dụng. Cần tịch thu để tiêu hủy.
. Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra, bị cáo khai đã mua ma túy của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Hoàng Trung T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 11 tháng 4 năm 2021).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì thư được niêm phong theo đúng quy định, bên trong có chứa toàn bộ số ma túy Methaphetamine (còn lại sau khi lấy mẫu giám định) thu giữ của bị cáo Hoàng Trung T, hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo phiếu nhập kho số NK0200, ngày 21/9/2021.
3. Về án phí: Áp dụng Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Hoàng Trung T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơinhận:
| - Bị cáo; - Những người TGTT; - VKS huyện Diễn Châu; - VKS tỉnh Nghệ An - TAND tỉnh Nghệ An ; - Công an huyện (NVCS); - Chi cục THA dân sự h.Diễn Châu; - THA hình sự; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ + lưu trữ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đoàn Thị Kiều Hương |