- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc Đ - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quốc Đ1 phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 187/2021/HS-ST Ngày: 03-8-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Châu Loan
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 8 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định - tỉnh Nam Định, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 189/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Quốc Đ1, sinh năm 1957; nơi sinh: tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn D, xã X, huyện Z, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 05/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc Đ và bà Phạm Thị T ; vợ: Phạm Thị L và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16-5-2021 sau đó chuyển tạm giam, đến ngày 15-6-2021 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quốc Đ1 thuê lại Nhà nghỉ Thành Nam, địa chỉ: Số X đường Z, xã X, thành phố Z của chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1986, địa chỉ: Phố C , xã N, huyện N, tỉnh Nam Định để kinh doanh, hàng tháng Đ1 phải trả chị V 4.000.000 đồng.
Khoảng 13 giờ ngày 16-5-2021 Trần Hải T, sinh năm 1984; trú tại: Số X, phường A, thành phố X đến nhà nghỉ Thành Nam. Tại đây T gặp Lê Quốc Đ1 tại quầy lễ tân của nhà nghỉ đặt vấn đề thuê phòng và nhờ Đ1 gọi gái bán dâm để mua dâm. Đ1 đồng ý và thông báo: Giá mua dâm là 300.000 đồng/lần, T đồng ý và đưa cho Đ1 500.000 đồng (trong đó 300.000 đồng trả giá bán dâm, còn 200.000 đồng là tiền công Đ1 gọi gái bán dâm). Đ1 đưa chìa khóa phòng 203 và 01 bao cao su cho Tân. Do trước đây biết Vũ Thị Hà G, sinh năm 1994; trú tại: Số Z, phường X, thành phố A là gái bán dâm nên Đ1 dùng điện thoại của mình gọi điện cho G bảo G sang Nhà nghỉ Thành Nam bán dâm cho khách, G đồng ý. Khoảng 13 giờ 40 phút G đến Nhà nghỉ Thành Nam, Đ1 nói khách đang đợi trên phòng 203, giá bán dâm là 300.000 đồng/lần, khi nào xong xuống đây lấy tiền. G đồng ý và lên phòng 203 thì thấy T đang nằm đợi. Cả hai cởi quần áo, T lấy bao cao su tự đeo vào dương vật và quan hệ tình dục với G. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Đội điều tra tổng hợp Công an thành phố Nam Định kiểm tra hành chính Nhà nghỉ Thành Nam phát hiện T và G đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 203, tiến hành lập biên bản vụ việc thu giữ 01 vỏ bao cao su và 01 bao cao su đã qua sử dụng. Thu giữ của Đ1 500.000 đồng, 01 điện thoại di động Samsung GalaxyJ7Pro Đ1 sử dụng gọi G sang Nhà nghỉ Thành Nam để bán dâm.
Tại cơ quan điểu tra, Trần Hải T và Vũ Thị Hà G đã khai nhận toàn bộ sự việc nêu trên phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Nam Định đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Quốc Đ1. Tại Cơ quan điều tra Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên.
Căn cứ trài liệu chứng cứ thu thập được, ngày 24-5-2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Nam Định đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Quốc Đ1 để điều tra về tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị V (là người đứng tên chủ cơ sở kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh; Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và phòng cháy) khai nhận: Ngày 01-6-2019 đã cho Lê Quốc Đ1 thuê lại Nhà nghỉ Thành Nam với số tiền 4.000.000 đồng/tháng để kinh doanh dịch vụ lưu trú và giao toàn bộ giấy tờ liên quan của Nhà nghỉ Thành Nam cho Đ1 quản lý, chị Vân không biết việc Đ1 sử dụng Nhà nghỉ Thành Nam vào hoạt động mại dâm.
Đối với hành vi mua dâm của Trần Hải T; hành vi bán dâm của Vũ Thị Hà G; do không cấu thành tội phạm nên Công an thành phố Nam Định đã xử phạt hành chính.
Đối với Nguyễn Thị V là người đứng tên chủ cơ sở kinh doanh cho Lê Quốc Đ1 thuê lại Nhà nghỉ Thành Nam để kinh doanh dịch vụ lưu trú. Kết quả điều tra cho thấy V không đồng phạm với Lê Quốc Đ1, do vậy không xem xét vấn đề trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị V
Bản cáo trạng số 191/CT-VKSTPNĐ ngày 08-7-2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Lê Quốc Đ1 tội: “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 327; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Quốc Đ1 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao cao su, 01 bao cao su đã sử dụng và 01 sim điện thoại; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động Samsung GalaxyJ7Pro thu giữ của bị cáo Đ1
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc Đ1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 16-5-2021 tại Nhà nghỉ Thành Nam, địa chỉ: Số X, xã Z, thành phố C; Lê Quốc Đ1 đã gọi điện thoại cho Vũ Thị Hà G sang Nhà nghỉ Thành Nam do Đ1 quản lý để bán dâm cho Trần Hải T thì bị Công an thành phố Nam Định kiểm tra hành chính phát hiện, điều tra làm rõ.
Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, biên bản ghi nhận vụ việc; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; lời khai của những người làm chứng; cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Quốc Đ1 phạm tội “Chứa mại dâm” theo Điều 327 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của bị cáo Lê Quốc Đ1 không vi phạm các tình tiết định khung và chỉ xét xử ở khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
4.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người cao tuổi, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
4.3. Về hình phạt chính:
Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm đạo đức xã hội, nếp sống văn minh Xã hội chủ nghĩa; vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử và có mức án nghiêm đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố.
Bị cáo Lê Quốc Đ1 có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo là người cao tuổi, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo và có đơn xin được cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận; vì vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo chứa mại dâm nhằm mục đích thu lời bất chính, tuy nhiên số tiền thu lời bất chính đã bị thu giữ, bị cáo là người cao tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
01 vỏ bao cao su, 01 bao cao su đã sử dụng và 01 sim điện thoại không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định của pháp luật.
Số tiền 500.000 đồng thu giữ là tiền do phạm tội mà có, 01 điện thoại di động Samsung GalaxyJ7Pro thu giữ của bị cáo Đ1 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tất cả tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Lê Quốc Đ1 phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Quốc Đ1 phạm tội “Chứa mại dâm”.
Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lê Quốc Đ1 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo (bị cáo đã bị giam giữ từ ngày 16-5-2021 đến ngày 15-6-2021), thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Quốc Đ1 cho Uỷ ban nhân dân xã Z, huyện X, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
2. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu KOMAX, 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 sim điện thoại Vinaphone;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động Samsung GalaxyJ7Pro màu đen.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Lê Quốc Đ1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Lê Quốc Đ1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thi bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - UBND xã Z, huyện X, tỉnh Nam Định; - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát ND TP. Nam Định; - Chi cục THA dân sự TP. Nam Định; - Công an TP. Nam Định; - Lưu Hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Mai Anh |