- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Nh - Trương Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị Nh được ly hôn với anh Trương Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa
| TÒA ÁN NHÂN DẤN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 187/2019/HNGĐ-ST Ngày: 06-11-2019 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nhủ Khuyên
Các vị Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Mầm
Ông Nguyễn Văn Hành
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 06 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 376/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 381/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Nh - Sinh năm 1989 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Số X đường Y tổ Z, khu phố A, phường Ph L B, Quận Q, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Anh Trương Văn T - Sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: ấp Nh Th B, xã Đ Th, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo chị Bùi Thị Nh trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Nh và anh T kết hôn vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ Th, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Sau khi kết hôn, chị Nh và anh T sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị Nh và anh T bất đồng quan điểm sống dẫn đến không hòa thuận, anh chị thường hay cãi nhau. Sau khi xảy ra mâu thuẫn gia đình hai bên nhiều lần hàn gắn nhưng chị Nh và anh T không thể chung sống hạnh phúc. Chị Nh và anh T đã sống ly thân với nhau từ năm 2017 đến nay. Tại phiên tòa, chị Bùi Thị Nh vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Trương Văn T.
- Về con chung: Chị Bùi Thị Nh xác định chị và anh Trương Văn T có 02 con chung tên Trương Bùi Gia H sinh ngày 04/5/2010 hiện đang sống chung với anh T; Trương Bùi Gia Đ sinh ngày 17/10/2016 hiện đang sống chung với chị Nh. Chị Nh yêu cầu nuôi con là Trương Bùi Gia Đ, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đối với Trương Bùi Gia H thì chị đồng ý giao cho anh T tiếp tục nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Nh xác định trong thời gian chung sống chị và anh Trương Văn T không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Bùi Thị Nh xác định trong thời gian chị và anh Trương Văn T chung sống không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Trương Văn T, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Tòa án cũng đã triệu tập anh T để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng anh T đều vắng mặt không lý do.
TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:
[1] Tranh chấp giữa chị Bùi Thị Nh và anh Trương Văn T là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh T có địa chỉ tại ấp Nhà Thính B, xã Đông Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
Veà hoân nhaân: Chị Nh và anh T kết hôn vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ Th, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nhân của chị Nh và anh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị Nh và anh T thực sự có xảy ra trong thời gian dài không thể hàn gắn được, chị Nh và anh T đã sống ly thân với nhau từ năm 2017 đến nay. Tại phiên tòa, chị Nh vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh T. Anh T không tham gia phiên tòa và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu xin ly hôn của chị Nh.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình thì chị Nh có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của chị Nh đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau tiến hành hòa giải tại Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, anh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh T hợp lệ đến lần thứ hai với nội dung triệu tập anh T đến Tòa án nhân dân huyện Cái Nước để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do. Do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh T. Anh T không đến Tòa án để hòa giải và tham dự phiên tòa, cho thấy anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Nh đối với anh T là phù hợp với quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về con chung: Xét thấy, tính đến ngày xét xử sơ thẩm cháu Trương Bùi Gia H đã trên 07 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, khi vợ chồng ly hôn, Toà án xem xét nguyện vọng của con để làm căn cứ giao cho người vợ hay người chồng trực tiếp nuôi. Tại biên bản ghi lời khai ngày 23/9/2019 đối với Trương Bùi Gia H của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thì cháu H trình bày nguyện vọng muốn được sống với cha là anh Trương Văn T, đây là ý chí tự nguyện của cháu H phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với con là Trương Bùi Gia Đ hiện đang sống chung với chị Nh đã ổn định về đời sống và tâm lý, chị Nh yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Đ mà không yêu cầu anh T cấp dưỡng, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên chấp nhận.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị Nh và anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Nh xác định chị và anh Trương Văn T không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị Bùi Thị Nh xác định trong thời gian chung sống chị và Anh Trương Văn T không có nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với anh T vắng mặt tại phiên tòa, anh không có ý kiến gì về con chung, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
[3] Án phí hoân nhaân vaø gia ñình sơ thẩm chị Nh phaûi chịu 300.000 đồng theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì caùc leõ treân;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Các Điều 9, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị Nh được ly hôn với anh Trương Văn T.
Về con chung: Giao con là Trương Bùi Gia H sinh ngày 04/5/2010 cho anh Trương Văn T tiếp tục nuôi. Chị Nh không phải cấp dưỡng nuôi con.
Giao con là Trương Bùi Gia Đ sinh ngày 17/10/2016 cho chị Bùi Thị Nh tiếp tục nuôi. Anh Trương Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Bùi Thị Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, đối trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004686 ngày 12/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, chị Nh nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Trương Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm Chị Bùi Thị Nh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trương Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - TAND tỉnh Cà Mau; - UBND xã Đ Th; - Đương sự; - Lưu VP-HS. | Trần Nhủ Khuyên |