vanban.org

Bản án 186 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Đức D.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức D được ly hôn với chị Trần Thị Yến N. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Yến Nhi được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Trần Diệp A, sinh năm 2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Đức D ly hôn Trần Thị Yến N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Đức D.
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 222 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án: 186/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09-7-2022.
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức.

Các Hội Thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Thanh Hoàng

2. Ông: Nguyễn Chí Lin

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 09/7/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 571/2022/TLST-HNGĐ ngày 16/6/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/6/2022, giữa:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tdp T, thị trấn N, huyện L, tỉnh L Địa chỉ liên lạc: tổ 09, ấp 6, xã V B, huyện B, Thành phố C

Bị đơn: Chị Trần Thị Yến N, sinh năm 1998; Địa chỉ: ấp H2, xã H, huyện Đ, tỉnh L.

(Anh D, chị N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Anh D xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng theo đơn xin ly hôn ngày và bản tự khai ngày 14/6/2022, anh trình bày:

Anh và chị Trần Thị Yên Nhi chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh L. Anh D cho rằng thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm nên anh và chị N đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh xin ly hôn.

Về con chung: Anh D khai anh và chị N có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Diệp A, sinh năm 2020. Khi ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Trần Thị Yến N có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng tại bản tự khai ngày 23/6/2022, chị trình bày: thống nhất với ý kiến và lời trình bày của ông Dũng về thời gian, điều kiện kết hôn, về con chung, tài sản cũng như nguyên nhân mâu thuẫn gia đình là đúng. Nay anh D xin ly hôn, chị đồng ý. Khi ly hôn, chị N xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng.

Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được do các đương sự có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng,

. Về thẩm quyền giải quyết

Anh Nguyễn Đức D có đơn xin ly hôn với chị Trần Thị Yến N. Chị N hiện đang cư trú tại ấp H2, xã H, huyện Đ, tỉnh L. Theo quy định tại các điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

. Về xét xử vắng mặt

Anh Nguyễn Đức D, chị Trần Thị Yến N có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục chung là đúng với quy định các đều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về nội dung,

. Về quan hệ hôn nhân:

Anh Nguyễn Đức D, chị Trần Thị Yến N chung sống với nhau vào năm 2020 có đăng ký kết hôn năm 2020 là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo thì anh D xin ly hôn vì cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2020cho đến nay nhưng cả hai cũng không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ. Đối với chị N, có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng cũng có lời khia là đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh D.

Nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh D, chị N không còn, thời gian ly thân nhau đã lâu nhưng cả hai bên cũng không có biện pháp gì để hàn gắn nên anh D xin ly hôn là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: Anh D khai anh và chị N có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Diệp A, sinh năm 2020. Khi ly hôn, anh D đồng ý giao con chung cho chị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị N cũng xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử giao con chung cho chị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự thống nhất khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

[3.] Về án phí: Anh Nguyễn Đức D phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 63, 146, 222, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 57, 58, các điều 81, 82, 83, 84, 85 và 86 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Đức D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức D được ly hôn với chị Trần Thị Yến N.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Yến Nhi được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Trần Diệp A, sinh năm 2020.

Anh Nguyễn Đức D không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Trần Thị Yến N không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức hoặc cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

3. Về án phí:

Anh Nguyễn Đức D phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước nhưng được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 6866 ngày 14/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, sang án phí để thi hành.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ