- Tranh chấp gì? "Lý Thành Đ1 - Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Thành Đ1 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số F, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Ấp Phú Thiện, xã Hòa Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh
- Căn cứ chính? Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 186/2026/QĐ-TA | Tp. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 6 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Đoàn Thế Dũng.
2. Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại điểm cầu Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh và Điểm cầu Cơ sở cai nghiện ma túy số 6, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ tại ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Thông báo thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 181/2026/TL-XLHC ngày 26/6/2026 và theo Quyết định mở phiên họp số 181/QĐ-TA ngày 26 tháng 6 năm 2026, đối với:
Họ và tên: Lý Thành Đ1, sinh ngày 11/8/1997 tại tỉnh Cà Mau; CCCD số 096097009269 tại Cục C2 về TTXH; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Không có công việc ổn định; Nguyên quán: Cà Mau; Nơi thường trú: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau; Nơi ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; Tiền án; Tiền sự: Chưa. Con ông Lý Văn H, sinh năm 1956 và con bà Phạm Thị C, sinh năm 1959. Vợ: Bùi Thị M, sinh năm 1999. Con: Lý Tiến A, sinh năm 2017, Lý Tiến C1, sinh năm 2021.
(Có mặt tại phiên họp)
3. Có sự tham gia của:
Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Quang K - Cán bộ Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Việt Chinh - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
1. Lý Thành Đ1 sử dụng ma túy lần đầu tiên vào năm 2016. Vào ngày 02/6/2026, Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Đ1 sử dụng chất ma tuý, tiến hành lập biên bản xét nghiệm, được kết quả dương tính với chất ma tuý, vì vậy, Công an phường P tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời, có văn bản đề nghị Trạm y tế phường P, TP . xác định tình trạng nghiện của Đ1. Trạm y tế phường P trả lời, kết luận Đ1 là người nghiện ma túy loại Methamphetamine nên Trưởng Công an phường P lập hồ sơ đề nghị đưa Đ1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định. 2. Tại phiên họp: 2.1. Người bị đề nghị Đ1 xác nhận, bản thân sử dụng ma túy lần đầu tiên từ năm 2016; Về tiền án, tiền sự chưa có. Ngày 02/6/2026, Công an phường P, phát hiện Đ1 sử dụng chất ma tuý, tiến hành lập biên bản xét nghiệm, được kết quả dương tính với chất ma tuý nên tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và lập hồ sơ đưa Đ1 đi cai nghiện bắt buộc; Bản thân thành thật hối lỗi, tự nguyện khai báo và đề nghị xem xét giảm thời gian áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. 2.2. Ý kiến đại diện Trưởng Công an phường P: Ngày 02/6/2026, Công an phường P tiến hành lập biên bản xét nghiệm chất ma tuý, sau khi có kết quả của Trạm y tế về việc Đ1 nghiện ma tuý loại Methamphetamine nên Công an tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và lập hồ sơ đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Đ1 vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định của pháp luật, với thời gian 12 (Mười hai) tháng đến 14 (Mười bốn) tháng.
2.3. Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí * Về tố tụng:
- Trình tự thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành lập hồ sơ đề nghị theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xửlý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. * Về nội dung, Đ1 là người nghiện ma tuý, căn cứ vào Điều 31, 32 của Luật phòng chống ma túy; Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Khoản 3 Điều 3 của Nghị định 166/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đưa Đ1 vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc với thời hạn từ 17 (Mười bảy) tháng đến 20 (Hai mươi) tháng.
XÉT THẤY:
. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: [1.1]. Về thời hiệu giải quyết: Đ1 sử dụng ma túy bị công an phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 02/6/2026 đến ngày 29 tháng 6 năm 2026, Tòa án mở phiên họp xem xét hồ sơ Lý Thành Đ1 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu theo điểm d Khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
. Về thẩm quyền giải quyết: Hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính; Điều 3 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 5 của Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân
[1.3]. Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Cơ quan lập hồ sơ đề nghị theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:
Tại phiên họp, Đ1 xác nhận bản thân sử dụng ma tuý lần đầu tiên vào năm 2016; Về tiền án, tiền sự chưa có. Ngày 02/6/2026, Công an phường P, phát hiện Đ1 sử dụng chất ma tuý, tiến hành lập biên bản xét nghiệm, được kết quả dương tính với chất ma tuý nên tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và lập hồ sơ đưa Đ1 đi cai nghiện bắt buộc; Bản thân Đ1 thành thật hối lỗi, tự nguyện khai báo và đề nghị xem xét giảm thời gian áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Công an phường P lập hồ sơ đưa Đ1 đi cai nghiện bắt buộc là có cơ sở theo Khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Khoản 49 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 31, 32 của Luật phòng, chống ma túy và Điều 40 đến Điều 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP.
[ 3]. Mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng:
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai tại phiên họp thể hiện, Đ1 nhận thức được hành vi sử dụng chất ma tuý là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện. Mặt khác, việc sử dụng ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của bản thân, là một trong những nguyên nhân dẫn đến mất an ninh trật tự an ninh xã hội nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân Đ1 vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm nên cần phải quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ1 một thời gian tương xứng với hành vi và mức độ vi phạm để cai nghiện, học tập và lao động.
Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, Đ1 đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính xem xét giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
. Lý do, căn cứ áp dụng:
. Lý do áp dụng: Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ1 là cần thiết để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
. Căn cứ áp dụng:
- Áp dụng các Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và điểm b khoản 1 Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính; Khoản 49 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020;
Áp dụng các Điều 3, 28, 33, 40, 41, 42, 43, 77 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
- Áp dụng các Điều 2, 3, 19, 20, 22, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
- Áp dụng Thông tư số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C3 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao;
- Áp dụng Luật số 88/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Áp dụng Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều ... của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân....;
- Áp dụng Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 về quy định phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định của chính phủ trong lĩnh vực an ninh, trật tự
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Thành Đ1 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số F, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Ấp Phú Thiện, xã Hòa Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 17 (Mười bảy) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (Ngày 02/6/2026).
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - UBND phường Rạch Dừa; - Công an phường Phước Thắng. - VKSND Khu vực 11, TP. Hồ Chí Minh; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 6, TP. Hồ Chí Minh; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. Đoàn Thế Dũng | THẨM PHÁN |