vanban.org

Bản án 186/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 29/04/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 …

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Bùi Lưu H. Về con chung: Giao cho anh Bùi Lưu H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Bùi Anh K, sinh ngày 15/6/2012 thời gian từ tháng 05/2025 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chị N có trách nhiệm cấp dưỡng hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 …
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29/4/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi
ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thanh

Bà Ngô Thị Thơm

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Nam Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 91/2025/ TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh ngày 09/09/1986,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.

- Bị đơn: Anh Bùi Lưu H, sinh ngày 09/02/1983,

Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Chị N, anh H đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Ninh B:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Lưu H tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã H), huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 10/12/2005. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống, tính cách không hoà hợp, không có tiếng nói chung. Tranh cãi ngày càng nhiều khiến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần. Chị N anh H đã sang Đài Loan năm 2015, do mâu thuẫn vợ chồng nên năm 2018 anh H về hẳn Việt Nam sinh sống. Dù đã được hai bên gia đình động viên, khuyên giải nhưng đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

- Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung là Bùi Lưu B1, sinh ngày 09/10/2006 và Bùi Anh K, sinh ngày 15/6/2012. Do cháu B1 đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết. Ly hôn, chị đề nghị giao con chung Bùi Anh K, sinh ngày 15/6/2012 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Về cấp dưỡng: Chị N tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bảnkhai và biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Bùi Lưu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh H nhất trí ly hôn. Về con chung: Anh và chị N có 02 con chung là Bùi Lưu B1, sinh ngày 09/10/2006 và Bùi Anh K, sinh ngày 15/6/2012. Do cháu B1 đã trưởng thành nên chị N không yêu cầu giải quyết, anh nhất trí. Ly hôn, chị N đề nghị giao con chung Bùi Anh K, sinh ngày 15/6/2012 cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, anh nhất trí. Về cấp dưỡng: Chị N tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng, anh nhất trí. Về tài tản chung, nợ chung: Anh H nhất trí không yêu cầu giải quyết.

Con chung của chị N và anh H là cháu Bùi Anh K có văn bản trình bày nguyện vọng được ở cùng bố.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Phạm Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh Bùi Lưu H có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Bùi Lưu H; Về con chung: Giao cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Bùi Anh K, sinh ngày 15/6/2012 cho đến khi con trưởng thành. Chị N có trách nhiệm cấp dưỡng cho con chung cùng anh H là 2.000.000 đồng/tháng; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Phạm Thị N có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Bùi Lưu H. Nguyên đơn chị N hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan, có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại Thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tại phiên tòa chị Phạm Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Bùi Lưu H có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N anh H.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phạm Thị N và anh Bùi Lưu H tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã H), huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 10/12/2005 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, tính cách không hoà hợp, không có tiếng nói chung. Hiện nay, chị N đang sinh sống, làm việc tại Đài Loan, anh H đang sinh sống tại Thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương, mỗi người có cuộc sống riêng. Đến naychị N xác định không còn tình cảm với anh H và có đơn xin ly hôn, anh H có quan điểm nhất trí ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh H đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị N ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về quan hệ con chung:

Chị N và anh H có 02 con chung là Bùi Lưu B1, sinh ngày 09/10/2006 và Bùi Anh K, sinh ngày 15/6/2012. Do cháu B1 đã trưởng thành nên HĐXX không xem xé giải quyết. Về con chung Bùi Anh K, sinh ngày 15/6/2012, ly hôn, chị đề nghị giao cháu K cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử, xét thấy: Chị N đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, cháu K cũng đã có đơn trình bày nguyện vọng được ở cùng bố. Do đó, giao cho anh H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K cho đến khi trưởng thành.

Về mức cấp dưỡng: Chị N tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng. Anh H nhất trí với mức cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: Các dương sự đã thống nhất được mức cấp dưỡng nên cần chấp chận.

Chị Phạm Thị N được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Bùi Lưu H.

2. Về con chung: Giao cho anh Bùi Lưu H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Bùi Anh K, sinh ngày 15/6/2012 thời gian từ tháng 05/2025 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chị N có trách nhiệm cấp dưỡng hàng tháng cho con chung cùng anh H là 2.000.000 đồng/tháng thời gian từ tháng 05/2025 đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án ký hiệu BLTU/23 số 0001658 ngày 24/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (đã nộp đủ).

Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung (chưa nộp).

4. Về quyền kháng cáo: Chị N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Anh H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ