- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phú Nhuận - TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phú Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 186/2023/HSST Ngày: 31-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Hồng Hải
2. Ông Triệu Văn Giản
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 163/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Phú Nh, sinh năm 1966; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn A, xã Ng, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 7/10; con ông: Trần Văn T (Đã chết) và bà Đỗ Thị Ng (Đã chết); gia đình có 02 chị em bị cáo là con thứ hai; vợ: Trần Thị Thúy V, sinh năm 1970 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14-6-2023 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố N; (Có mặt).
- Người làm chứng:
1. Ông Đào Văn (Vắng mặt).
2. Ông Trần Tất T (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 14-6-2023, tổ công tác Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 80 đường B, phường Ng, thành phố N phát hiện Trần Phú Nh điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1-999.04 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, Nh tự giác giao nộp từ túi áo ngực bên trái đang mặc 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (Nh khai là 01 gói Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Phú Nh. Ngoài ra tạm giữ của Nh 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-999.04 và 01 chiếc điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Oppo, đều đã cũ.
Bản kết luận giám định số 926/KL-KTHS ngày 20-6-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine (Heroin). Khối lượng mẫu: 0,210 gam.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Trần Phú Nh khai nhận: Khoảng 6 giờ ngày 14-6-2023, Nh điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1-999.04 từ nhà đến khu vực quảng trường Hòa Bình, thành phố N nhờ một người xe ôm (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua hộ 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng. Trước đó Nh đã nhờ người xe ôm này mua hộ ma túy vài lần (không nhớ thời gian, địa điểm cụ thể). Người xe ôm đồng ý, khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho Nh 01 gói ma túy. Nh cất gói ma túy mua được vào túi áo ngực bên trái, rồi điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản cáo trạng số 183/CT-VKSND-TPNĐ ngày 07-8-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Trần Phú Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Phú Nh khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Phú Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xử phạt bị cáo Trần Phú Nh từ 24 đến 27 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ.
Bị cáo Trần Phú Nh không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Phú Nh tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; Lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 7 giờ ngày 14-6-2023, tại khu vực trước cửa số nhà 80 đường B, phường Ng, thành phố N, tỉnh Nam Định, Trần Phú Nh đã tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ là 0,210 gam Heroine, vì vậy tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS nên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là đúng pháp luật.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Phú Nh gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, bị cáo là người nghiện ma túy, lần phạm tội này bị cáo đã tàng trữ 0,210 gam Heroine để sử dụng, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Trần Phú Nh là người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Cơ quan điều tra Công an thành phố N đã tách đối tượng mua hộ ma túy cho Trần Phú Nh để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng pháp luật. Hành vi đối tượng mua hộ ma túy cho Trần Phú Nh vài lần theo lời khai của Nh, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định nên không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng: Số ma tuý thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước độc quyền quản lý, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-999.04 và điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Oppo, là tài sản của bà Trần Thị Thúy V (vợ Nh). Bà Vân không biết Nh lấy xe và điện thoại đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bà Vân là đúng quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo Trần Phú Nh bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Phú Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;
Xử phạt bị cáo Trần Phú Nh 21 (Hai mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14-6-2023.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 926/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố N).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Phú Nh phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Phú Nh có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Nam Định; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Nam Định; - Công an TP. Nam Định; - Lưu Hồ sơ; - Lưu VP. CÁC HỘI THẨM | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Công Khánh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Công Khánh |