vanban.org

Bản án 186/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Tấn A, Lê Hữu L và Cao Minh S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn A 09 (Chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Tấn A và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Tấn A, Lê Hữu L và Cao Minh S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2023/HS-ST
Ngày 16-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Mộng Thu;

Ông Tống Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 172/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Tấn A (tên gọi khác: R), sinh năm 1995 tại Cần Thơ; nơi cư trú: Khu vực H1, phường L1, quận O, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Th và bà Phạm Thị V; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2022 cho đến nay; có mặt.

2. Lê Hữu L, sinh năm 2003 tại Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp V1, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu T1 và bà Lê Thị A1; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2022 cho đến nay; có mặt.

3. Cao Minh S, sinh năm 1993 tại Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp Đ, xã Y, huyện L2, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Cao Thị D, không rõ tên cha; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2022 cho đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1966; nơi cư trú: Khu phố Ph, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Huỳnh Lê Minh N1 và ông Cao Thanh N2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Tấn A, Lê Hữu L và Cao Minh S là bạn. A và L ở chung tại ki ốt số 3 nhà trọ Nguyễn Thị H2 thuộc phường H3, thành phố M, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 16/11/2022, A đang ở ki ốt số 3 nhà trọ Nguyễn Thị H2 thì B (không rõ nhân thân) là người đã nhiều lần bán ma túy cho A đến hỏi A có mua ma túy không, A đồng ý mua 01 túi nylon chứa ma túy đá với giá 1.200.000 đồng. Lúc này, một người có tên zalo là “KC” (không rõ lai lịch) điện thoại cho L hỏi mua một góc tư ma túy, L hỏi A còn ma túy không, A nói một góc tư ma túy có giá 1.900.000 đồng, người này đồng ý mua và kêu L giao ma túy đến đường 39 thuộc khu phố Tr, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương sẽ cho L 100.000 đồng. Sau đó, A chia túi ma túy vừa mua được của B ra làm 02 gói nhỏ rồi đưa cho L 01 gói đi giao cho người tên “KC”. L điều khiển xe mô tô biển số 61E1- 621.15 đến điểm hẹn và ngồi trên xe chờ “KC” đến. Khi L đang ngồi chờ thì lực lượng Công an phường P tuần tra thấy L có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính phát hiện trên tay áo bên phải của L có một gói nylon miệng hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. L khai nhận đây là ma túy A đưa cho L bán cho người tên “KC”. Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và đưa L về trụ sở làm việc, đồng thời thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền.

Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi A đưa ma túy cho L đi bán thì Cao Minh S đến ki ốt của A chơi. Lúc này, A đưa cho S một túi nylon bên trong có chứa ma túy và kêu S phân chia ra để bán lại cho các con nghiện. S phân ra được 11 gói ma túy nhỏ rồi đưa lại cho A, A kêu S cất giữ, khi nào có người đến mua thì bán giùm với giá 200.000 đồng/gói, S bỏ 11 gói ma túy vào túi quần rồi ra ghế đá phía trước ki ốt ngồi nói chuyện với A. Đến khoảng 22 giờ 00 phút, trên cơ sở lời khai của Lê Hữu L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Huỳnh Tấn A phát hiện bên trong túi quần của S có 11 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ bên trong tủ đồ trong ki ốt của A 01 thanh kim loại màu vàng đen kích thước (11x4x2)cm trên thân có hai nút tròn màu vàng, trên đầu có hai lỗ tròn và 30 viên đạn có vỏ màu vàng, đầu đạn màu xám bằng kim loại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T niêm phong tang vật và đưa tất cả về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, A khai nhận thanh kim loại màu vàng đen nêu trên là súng tự chế do một người bạn tên Q (không rõ lai lịch) cho A. Vật chứng tạm giữ gồm:

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy;

- 01 (một) gói nylon miệng hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trằng;

- 11 (mười một) gói nylon hàn kín bên trong chưa chất tinh thể màu trắng;

- 01 (một) thanh kim loại màu vàng đen kích thước 11x4x2cm, trên thân có 02 nút tròn màu vàng, trên đầu có 02 lỗ tròn;

- 30 (ba mươi) viên đạn có vỏ màu vàng, đầu đạn màu xám bằng kim loại;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh;

- 01 (một) xe mô tô biển số 61E1-621.15, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ-đen, số máy E3X9E104380, số khung RLCUE3240HY039527.

Bản kết luận giám định số 538/KL-KTHS(MT) ngày 23/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong gói nylon miệng hàn kín thu giữ của Lê Hữu L (ký hiệu M1) và mẫu tinh thể bên trong 11 gói nylon hàn kín (ký hiệu M2) thu giữ của Huỳnh Tấn A và Cao Minh S đều là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng M1 = 1,3265 gam; M2 = 1,2028 gam.

Bản kết luận giám định số 14/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Thanh kim loại kích thước (11x4x2)cm gửi giám định là súng chế tạo thủ công bắn đạn nổ, có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng.

- 30 (ba mươi) viên đạn gửi giám định là đạn thể thao, chưa bắn, cỡ (5,6x15) mm, sử dụng cho khẩu súng nêu trên.

- Sử dụng khẩu súng nêu trên bắn đạn cỡ (5,6x15) mm trúng cơ thể người có thể gây thương vong.

Quá trình điều tra xác định được Huỳnh Tấn A đã nhiều lần giao ma túy cho Lê Hữu L và Cao Minh S để bán cho các đối tượng nghiện ma túy (không rõ lai lịch) tại ki ốt số 3 nhà trọ Nguyễn Thị H2, A sẽ cho L và S 50.000 đồng/lần bán, cụ thể như sau:

- Lê Hữu L đã bán ma túy giùm cho Huỳnh Tấn A 02 lần: Lần thứ 1 vào ngày 10/11/2022, A đưa ma túy cho L bán cho con nghiện với giá 200.000 đồng. Lần thứ hai vào ngày 16/11/2022, A giao ma túy cho L đi bán cho người có tên Zalo “KC” với giá 1.900.000 đồng nhưng chưa giao được thì bị phát hiện bắt quả tang.

- Cao Minh S đã bán ma túy giùm cho A 03 lần, mỗi lần 200.000 đồng, cụ thể: Ngày 13/11/2022, A giao ma túy cho S bán 01 lần. Ngày 14/11/2022, A giao ma túy cho S bán 02 lần.

Ngày 05/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công thị xã (nay là thành phố) T đã chuyển tin báo cùng vật chứng đối với hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng của Huỳnh Tấn A đến Cơ quan A ninh điều tra Công an tỉnh Bình Dương để thụ lý điều tra theo thẩm quyền. Ngày 06/4/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bình Dương đã ra Thông báo số 187 về việc tiếp nhận tin báo nêu trên.

Xe mô tô biển số 61E1-621.15, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, số máy E3X9E104380, số khung RLCUE3240HY039527 do ông Ngô Văn Đ đứng tên chủ sở hữu. Ông Đ đã bán xe này cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) vào năm 2022 nhưng không làm thủ tục sang tên. Huỳnh Tấn A khai A mua lại xe này từ một người không rõ lai lịch nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng thông báo truy tìm chủ sỡ hữu trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay vẫn không ai đến để làm việc.

Bản Cáo trạng số 194/CT-VKSTU ngày 10/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố các bị cáo Huỳnh Tấn A, Lê Hữu L và Cao Minh S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn A từ 09 năm đến 10 năm tù.

Xử phạt bị cáo Lê Hữu L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Xử phạt bị cáo Cao Minh S từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (tự chế); tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô Yamaha Sirius 61E1-621.15 và 01 điện thoại di động Vivo màu xanh; buộc bị cáo Huỳnh Tấn A nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng thu lợi bất chính.

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tu ̣c tố tu ̣ng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin vắng mặt và những người làm chứng vắng mặt. Quá trình điều tra, lời khai của họ không mâu thuẫn với lời khai của các bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát; các bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt những người này. Xét thấy, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những tham gia tố tụng nêu trên.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như vật chứng thu giữ, lời khai của những người làm chứng. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Ngày 16/10/2022 tại ki ốt số 3 nhà trọ Nguyễn Thị H2 thuộc phường H3, thành phố M, tỉnh Bình Dương, Huỳnh Tấn A có hành vi giao 1,3265 gam ma túy loại Methamphetamine cho Lê Hữu L đem bán cho một người tên “KC” (không rõ lai lịch) tại khu phố Tr, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương nhưng L chưa bán được thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, Huỳnh Tấn A còn có hành vi tàng trữ 1,2028 gam ma túy loại Methamphetamine và đưa cho Cao Minh S cất giữ nhằm mục đích bán lại cho các con nghiện. Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định được Huỳnh Tấn A đã giao ma túy Lê Hữu L bán 02 lần, giao ma túy cho Cao Minh S bán 03 lần. Do đó, hành vi của Huỳnh Tấn A, Lê Hữu L và Cao Minh S đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố các bị cáo với hai tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vì tham lam tư lợi, muốn có được tiền tiêu xài và sử dụng ma túy mà bất chấp hậu quả, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền kiểm soát, quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, đồng thời làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về đồng phạm: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn trong đó, bị cáo A là người khởi xướng, mua ma túy từ đối tượng B và phân công cho L, S đi bán ma túy cho các con nghiện nhằm kiếm lời, bị cáo L và S có vai trò đồng phạm, giúp sức tích cực cho A. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo A cao hơn bị cáo L, S.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với các bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (tự chế) không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 xe mô tô Yamaha Sirius 61E1-621.15 và 01 điện thoại di động Vivo màu xanh là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo Huỳnh Tấn A nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng thu lợi bất chính.

Quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch của người tên B đã bán ma túy cho Huỳnh Tấn A nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.

Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Tấn A, Lê Hữu L và Cao Minh S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn A 09 (Chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2022.

- Xử phạt bị cáo Lê Hữu L 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/11/2022.

- Xử phạt bị cáo Cao Minh S 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2022.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự,

̀

- Buộc bị cáo Huỳnh Tấn A nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng.

- Tịch thu, tiêu hủy 1,2816 gam ma túy còn lại sau giám định đựng trong bì thư niêm phong ký hiệu 538/PC09-M1; 1,1647 gam ma túy còn lại sau giám định đựng trong bì thư niêm phong ký hiệu 538/PC09-M2 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (tự chế);

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô Yamaha Sirius 61E1-621.15 màu đỏ-đen, số khung: 3240HY039527, số máy: E3X9E104538 và 01 điện thoại di động Vivo màu xanh.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hinh sự; Điều

̀ 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ y ban thương vu ̣

̀ Quốc hô ̣i khóa 14 quy đi ̣nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc mỗi bị cáo Huỳnh Tấn A, Lê Hữu L và Cao Minh S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ