vanban.org

Bản án 186/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 07/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Đức S 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 18/10/2022. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số Heroine thu được của bị cáo Trần Đức S còn lại sau khi giám định là 0,4922 gam và bao gói. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:186/2022/ HS - ST
Ngày 07 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Chu Thị Hồng Nhật

2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang

- Thư ký phiên Tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên Tòa: Ông Bùi Quốc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2022/TLST - HS ngày 23 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2022/QĐXXST- HS ngày 25/11/2022 đối với: Bị cáo: Trần Đức S, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1993 tại Thái Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn LT, xã VT, huyện VT, tỉnh Thái Bình. Nơi ở hiện nay: Thôn TX, xã D N, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Vvà bà Tạ Thị Thúy H; vợ: Quách Thị Q. Bị cáo có 01 con sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tạm giữ từ ngày 18/10/2022 đến ngày 21/10/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên Tòa.

* Người chứng kiến:

- Ông Nguyễn Đăng S1, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Số nhà 05, ngõ 274, tổ 12, phường QT, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Ông Tống Gia N , sinh năm 1952. Nơi cư trú: Số nhà 100, tổ 18, phường QT, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

(Vắng mặt: Ông S1, ông N).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần ma túy để sử dụng, khoảng 10 giờ 50 phút ngày 18/10/2022, Trần Đức S đi xe ôm của người không biết tên, tuổi, địa chỉ từ nhà ở thôn Trường Xuân, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đến khu vực ngõ 02, đường Hoàng Công Chất, tổ 11, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì xuống xe đi bộ, khi S đi được một đoạn thì gặp và mua được của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, nhưng không biết tên, địa chỉ 04 gói ma túy, loại Heroine với giá 800.000 đồng. Sau đó S cầm ma túy ở bên trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ để tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi S đi đến khu vực trước cửa số nhà 58, ngõ 02, đường Hoàng Công Chất, tổ 04, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình thì bị tổ công tác Công an phường Quang Trung, thành phố Thái Bình phát hiện, yêu cầu S chấp hành pháp luật. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Tống Gia Nậm, sinh năm 1952, trú tại số nhà 100, tổ 18, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình và ông Nguyễn Đăng Sỹ, sinh năm 1961, trú tại số nhà 05, ngõ 274, tổ 12, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, S đã tự giác giao nộp 04 gói nhỏ bên ngoài được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của S vừa mua với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tại kết luận giám định số 408/KL - KTHS ngày 19/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Trần Đức S gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,5377 gam.

Tại phiên Tòa bị cáo S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 194/CT- VKSTPTB ngày 23/11/2022, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Trần Đức S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo S về tội danh và điều luật như bản cáo trạng 194/CT- VKSTPTB và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Đức S. Xử phạt bị cáo S từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/10/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung, đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo S không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên về bản luận tội đối với bị cáo tại phiên Tòa. Bị cáo S nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và người chứng kiến không khiếu nại hay có ý kiến gì nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên Tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Kết luận giám định số 408/KL-KTHS(MT) ngày 19/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của những người chứng kiến là ông Nguyễn Đăng S1, ông Tống Gia N và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Hồi 11 giờ 45 phút ngày 18/10/2022, tại khu vực trước cửa số nhà 58, ngõ 02, đường Hoàng Công Chất, tổ 04, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Công an phường Quang Trung, thành phố Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Trần Đức S có hành vi tàng trữ trái phép trong người 04 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,5377 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, hành vi của bị cáo S đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

. Đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo S đã có hành vi tàng trữ trong người 04 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,5377 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền và các quy định của Nhà nước đối với chất ma túy gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Đức S thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt:

. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cai được ma túy đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo S có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Đối với số Heroine, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo S còn lại sau khi giám định là 0,4922 gam và bao gói, cần áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về nguồn gốc Heroine: Bị cáo Trần Đức S khai mua ma túy của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, nhưng không biết tên và địa chỉ, tại khu vực ngõ 02, đường Hoàng Công Chất, tổ 11, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và người xe ôm chở S, S không biết tên, tuổi, địa chỉ, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình không có căn cứ để điều tra, xử lý.

. Về án phí: Bị cáo S phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Đức S 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 18/10/2022.

3. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số Heroine thu được của bị cáo Trần Đức S còn lại sau khi giám định là 0,4922 gam và bao gói.

(Số vật chứng trên Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình có đặc điểm mô tả như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2022).

4. Về án phí: Bị cáo Trần Đức S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 07/12/2022.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ