vanban.org

Bản án 186/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Bùi Văn H. Xử cho anh Bùi Văn H ly hôn chị Bùi Thị T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Bùi Văn H - Chị Bùi Thị T"
  • Tòa quyết gì? 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁ THƯỚC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:186/2021/HNGĐ-ST
Ngày 30 -9 - 2021
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Trực 2. Bà Trương Thị Quý

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Nhung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Bá Thước. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Quyển – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2021/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45 ngày 15 tháng 9 năm 2021 giữa: Nguyên đơn: Anh Bùi Văn H; Sinh năm 1988 (vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn M, xã Đ Q, huyện B T, tỉnh Thanh Hóa. Bị đơn: Chị Bùi Thị T; Sinh năm 1986 (vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn M, xã Đ Q, huyện B T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án anh H trình bày: Anh H và chị T tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau. Anh chị có tổ chức cưới theo phong tục tập quán. Ngày 21 tháng 5 năm 2009 tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ Q, huyện B T.

Từ đầu năm 2018 thì mâu thuẫn do vợ chồng xa nhau, chị T làm ăn trong miền nam còn anh H làm ở Hưng Yên. Vợ chồng không quan tâm nhau được thường xuyên và không tin tưởng nhau nên tình cảm gia đình rạn nứt. Chị T ít gọi điện về cho chồng con và không gửi tiền về cho các con nên vợ chồng cãi nhau và mâu thuẫn trở nên trầm trọng. Mỗi lần gặp nhau chỉ cãi lộn, gây ức chế cho nhau. Nay anh H không còn tình cảm với chị T nên xin ly hôn.

Về con chung: Anh H và chị T có 03 con chung là Bùi Thị Cẩm L sinh ngày 24/8/2008 và cháu Bùi Hùng H, sinh ngày 07/9/2013 và cháu Bùi Hạnh P, sinh ngày 31/01/2015 lâu nay anh H đang trực tiếp nuôi con. Khi ly hôn anh H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cả ba con chung không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Cháu Bùi Thị Cẩm L và cháu Bùi Hùng H có nguyện vọng được tiếp tục ở với bố và em. Bị đơn chị Bùi Thị T đã được tống đạt hợp lệ nhưng không đến làm việc theo thông báo của Tòa án. Qua xác minh tại địa phương hiện nay anh H đang trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung là Bùi Thị Cẩm L sinh ngày 24/8/2008 và cháu Bùi Hùng H, sinh ngày 07/9/2013 và cháu Bùi Hạnh P, sinh ngày 31/01/2015. Các cháu đều có mong muốn được ở với bố. Sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử anh H có đơn xin xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền và trình tự tố tụng thẩm phán, thư ký, HĐXX thực hiện đúng đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Xử cho anh Bùi Văn H ly hôn chị Bùi Thị T. Giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Bùi Thị Cẩm L, sinh ngày 24/8/2008, cháu Bùi Hùng H, sinh ngày 07/9/2013 và cháu Bùi Hạnh P, sinh ngày 31/01/2015 cho đến khi thành niên. Chị Bùi Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS. Thẩm phán, thư ký và HĐXX đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định, trình tự của BLTTDS.

Việc xét xử vụ án theo thủ tục xét xử vắng mặt tất cả đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227 và điểm a, điểm b, khoản 1, Điều 238 của BLTTDS. [2] Về nội dung: Anh Bùi Văn H và chị Bùi Thị T tự do tìm hiểu, tự nguyện lấy nhau, có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị hợp pháp. [3] Tình trạng hôn nhân: Mâu thuẫn giữa anh Bùi Văn H và chị Bùi Thị T đã đến mức trầm trọng. Cuộc sống chung không còn tồn tại, mỗi người một nơi không chung mục đích. Nay anh H xác định không còn tình cảm vợ chồng, anh chị đã ly thân. HĐXX căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh H ly hôn chị T. Về con chung. Căn cứ các Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình. Giao các cháu Bùi Thị Cẩm L, sinh ngày 24/8/2008, cháu Bùi Hùng H, sinh ngày 07/9/2013 và cháu Bùi Hạnh P, sinh ngày 31/01/2015 cho anh Bùi Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Chị Bùi Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Bùi Thị T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Anh Bùi Văn H chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị định số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều

82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ: Khoản 2 Điều 227; Điểm a, điểm b khoản 1 Điều 238; Khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

2. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Bùi Văn H. Xử cho anh Bùi Văn H ly hôn chị Bùi Thị T.

3. Về con chung: Giao các cháu Bùi Thị Cẩm L, sinh ngày 24/8/2008, cháu Bùi Hùng H, sinh ngày 07/9/2013 và cháu Bùi Hạnh P, sinh ngày 31/01/2015 cho anh Bùi Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Chị Bùi Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Bùi Thị T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Tài sản: Không có, không yêu cầu giải quyết. -Về nợ chung: Không có

4. Về án phí: Anh Bùi Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0007592 ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B T (anh H đã nộp đủ).

Án sơ thẩm vắng mặt anh Bùi Văn H và chị Bùi Thị T. Anh H và chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án hợp lệ.

Cỡ chữ