- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Chung Quốc T phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phư…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chung Quốc T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 09/2018/HS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 186/2018/HS-PT Ngày: 10-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Bảy
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Thiện
Ông Bùi Xuân Liêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quyết Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 163/2018/TLPT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo Chung Quốc T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2018/HS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo có kháng cáo: Chung Quốc T; (tên gọi khác: Tý), sinh ngày 16 tháng 02 năm 1983; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố 2, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chung Văn Th và bà Lâm Thị H; có vợ là Lê Thị S (đã ly hôn), có 1 con sinh năm 2010; tiền án: Ngày 19/7/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999; tiền sự: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 19/7/2017, sau khi dự đám cưới em ruột là Chung Thị Tr, Chung Quốc T về nhà tại phường A, thành phố T. Đến khoản 22 giờ 30 phút cùng ngày, mặc dù đã uống rượu, bia nhưng T vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92N1- 405.43 của mình chở dì ruột là bà Lâm Thị H lưu hành trên đường Quốc lộ 40B để đi về thị trấn T. T điều khiển xe mô tô theo hướng Thành phố T đi huyện T, với tốc độ từ 40 đến 50 km/h. Khi đến km 19+900 Quốc lộ 40B thuộc địa phận thôn D, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam, đây là đoạn đường cong về bên trái theo hướng lưu hành và tông vào xe mô tô biển kiểm soát 92N5- 0240, do anh Nguyễn Quốc V lưu hành theo hướng ngược lại gây ra tai nạn. Hậu quả anh Nguyễn Quốc V chết tại chỗ, Chung Quốc T và bà Lâm Thị H bị thương được đưa đi cấp cứu; 02 xe mô tô đều bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường ghi nhận các dấu vết như sau:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường cong về bên trái theo hướng Thành phố T - Huyện T, mặt đường rộng 05m được trải thảm nhựa tương đối bằng phẳng, lề trái theo hướng trên được thảm bê tông xi măng rộng 1,4m, lề bên phải là lề đất rộng 01m.
1. Vết chà lốp hình vòng cung trên lề bê tông xi măng bên trái đường hướng Thành phố T- Huyện T, cong từ trái qua phải, kích thước (0,52 x 0,02)m. Điểm đầu vết cách mép đường làm chuẩn (mép đường bên trái theo hướng Thành phố T - Huyện T) 0,45m, đồng thời cách điểm mốc (trục km H9/19) về hướng Thành phố T là 11,30 mét. Đo từ điểm cong nhất của vết chà lốp đến mép đường làm chuẩn là 0,25m, điểm cuối mép chà lốp cách mép đường làm chuẩn là 0,16m.
2. Xe mô tô biển kiểm soát 92N5- 0240 ngã nghiêng bên phải trên lề trái đường bê tông xi măng, đầu xe quay về hướng Thành phố T. Tại vị trí xe nằm có vết luyn loang trên mặt đường, kích thước (0,25 x 0,19)m. Trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn là 0,50m đồng thời cách điểm cuối vết chà lốp về hướng Thành phố T là 0,40m, trục bánh sau cách mép đường trên là 01m.
3. Chùm mảnh vỡ nhựa trên lề bê tông và tại phần đường bên trái theo hướng Thành phố T - Huyện T kích thước (1,13 x 0.82)m. Tâm chùm mảnh vỡ nhựa cách mép đường làm chuẩn là 0,30m đồng thời cách trục trước xe mô tô biển kiểm soát 92N5- 0240 về hướng Thành phố T là 0,90m.
4. Xe mô tô biển kiểm soát 92N1- 405.43 ngã nghiêng bên trái tại phần đường bên trái theo hướng lưu hành Thành phố T - Huyện T, đầu xe quay về hướng Thành phố T, trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn là 01m, trục bánh sau cách mép đường trên là 1,1m đồng thời cách tâm mảnh vỡ về hướng Thành phố T là 1,80m.
5. Vết xước trên lề bê tông xi măng bên trái đường có hướng Huyện T - Thành phố T, chếch từ phải qua trái kích thước (0,37 x 0,02)m, điểm đầu vết xước cách mép đường làm chuẩn là 0,60m, điểm cuối trùng ngay dưới ống xả khói của xe mô tô biển kiểm soát 92N5- 0240.
6. Nạn nhân nằm ngửa trên lề bê tông bên trái đường theo hướng lưu hành Thành phố T - Huyện T, đầu nạn nhân quay về hướng Huyện T, hai chân, hai tay duỗi thẳng. Đo từ khoảng giữa hai bàn chân của nạn nhân đến mép đường làm chuẩn 1,30m, đo từ đỉnh đầu nạn nhân đến mép đường trên là 1,1m.
Khám mở rộng hiện trường bán kính là 30m nhưng không phát hiện dấu vết gì thêm.
Tại Phiếu xét nghiệm hóa sinh máu ngày 20/7/2017 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam xác định: Nồng độ cồn (Ethanol) trong máu của Chung Quốc T là 95.50 mg/dl đã vượt quá quy định tại khoản 8 điều 8 Luật Giao thông đường bộ 2008.
Tại Bản Giám định pháp y số 115/GĐPY-PC54 ngày 25/7/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận Nguyễn Quốc V chết ngày 19/7/2017 trong vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 19/7/2017 tại thôn Dương Đàn, xã T, huyện P là do đa chấn thương: Chấn thương sọ não kín, vỡ lún xương sọ vùng trán bên trái, dập não xuất huyết, tụ máu nội sọ; chấn thương hàm mặt, gãy kín cung tiếp gò má hai bên, gãy xương hàm trên, choáng chấn thương, suy hô hấp, suy tuần hoàn không hồi phục.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ 02 xe mô tô biển kiểm soát 92N5-0240 và 92N1-405.43. Qua xác minh, xe mô tô biển kiểm soát 92N5-0240 là của anh Nguyễn Quốc V, nên cơ quan điều tra đã trả lại cho người đại diện theo pháp luật của anh V là ông Nguyễn Đ - (cha ruột của anh V), ông Đ không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại về tài sản; xe mô tô biển kiểm soát 92N1-405.43 là của Chung Quốc T nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Về dân sự: Chung Quốc T và gia đình đã khắc phục hậu quả cho gia đình anh Nguyễn Quốc V số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Gia đình ông V có đơn xin bãi nại và không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Bà Lâm Thị H bị thương tích nhẹ và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Với nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2018/HS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện P đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Chung Quốc T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 28/6/2018, bị cáo Chung Quốc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Bản án án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và tại phiên tòa bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ hình phạt gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Chung Quốc T không tranh luận, nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo Chung Quốc T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm, các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19/7/2017, mặc dù đã sử dụng rượu, bia và có nồng độ cồn trong máu vượt quá mức quy định nhưng Chung Quốc T vẫn điều khiển xe mô tô của mình chở bà Lâm Thị H lưu thông theo hướng Thành phố T - Huyện T, khi đến đến Km 19+900 Quốc lộ 40B thuộc địa phận thôn D, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam, T điều khiển xe mô tô của mình chạy lấn qua làn đường bên trái tông vào xe mô tô do anh Nguyễn Quốc V điều khiển theo hướng ngược lại, làm cho anh Việt chết tại chỗ. Hành vi trên của Chung Quốc T đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Chung Quốc T đề nghị Hội đồng xét xử giảm mức hình phạt cho bị cáo thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, thái độ thành khẩn, ăn năn hối cãi của bị cáo và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là đã thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo đã có một tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, đã bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 04 năm tù vào ngày 06/4/2014 cho nên hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm với tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức án 18 tháng tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định của pháp luật so với những tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
[3] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Chung Quốc T phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chung Quốc T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 09/2018/HS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009;
Xử phạt: Bị cáo Chung Quốc T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Chung Quốc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Nam; - TAND huyện P; - VKSND huyện P; - Công an huyện P; - CCTHADS huyện P; - Người tham gia tố tụng; - Trại tạm giam CA tỉnh Q.Nam - Phòng PV 27 CA tỉnh Q.Nam; - Phòng HSNV Sở tư pháp Q.Nam; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Đình Bảy |