vanban.org

Bản án 1856/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/10/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

93,94, Điều 147, 203,207,208, 220, 227,228, 266, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NHTMCP NA kiện ông Đặng Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? 93,94, Điều 147, 203,207,208, 220, 227,228, 266, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1856/2019/DS-ST
Ngày: 22/10/2019
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Cẩm Vân

2. Ông Trần Ngọc Luyện

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình

Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ

Lê Mỹ Phương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:

1419/2018/ TLST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 317/2019/QĐXXST-DS ngày

29/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 235/2019/QĐST-DS ngày 24/9/2019 giữa

các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP NA

Địa chỉ: 201- 203 đường C , Phường A, Quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Tạ Thị Thanh Tuyền

Theo văn bản ủy quyền số 177/2018/UQ-NHNA-06 ngày 06/7/2018

Bị đơn: Đặng Vân Đ

Địa chỉ: Số 528 đường B, Phường V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/7/2018 của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ

có trong hồ sơ vụ án, bản tự khai của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bàTạ

Thị Thanh Tuyền và các biên bản hòa giải thì:

Ngày 18/9/2015 bị đơn đã ký với Ngân hàng TMCP NA (gọi tắt là Nam A

Bank) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Căn cứ vào thu nhập của bị đơn, Nam A Bank

đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, với mục đích

tiêu dùng cá nhân, sau khi cấp thẻ bị đơn đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là

19.352.158 đồng cho giao dịch của 2 thẻ 5331470000162531 và thẻ

9704280900062777. Qua nhiều lần nhắc nhở bị đơn không có thiện chí trả nợ, do bị đơn đã vi phạm nghĩ vụ thanh toán nên ngày 28/9/2016 Nam Á Bank chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tính đến 22/10/2019, bị đơn còn nợ tổng cộng 02 thẻ là 23.884.814 đồng (trong

đó nợ gốc là 11.586.776 đồng, lãi là 12.298.038 đồng).

Mặc dù thường xuyên đôn đốc và tạo điều kiện về mặt thời gian cho bị đơn trả

nợ, tuy nhiên bị đơn vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho nguyên đơn, vi phạm các điều khoản đã quy định tại hợp đồng.

Nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn trả cho Nam Á Bank tổng số tiền tính đến nay

là 21.899.460 đồng (trong đó nợ gốc là 11.586.776 đồng, lãi là 10.312.684 đồng).

Bị đơn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 14/6/2019 cho

đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Ngoài ra bị đơn còn phải chịu tiền án phí.

Bị đơn, vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến như đã trình

bày tại bản tự khai và các bản sao kê nộp cho Tòa án, tính đến ngày 22/10/2019 bị đơn còn nợ số tiền là 23.884.814 đồng (trong đó nợ gốc là 11.586.776 đồng, lãi là 12.298.038 đồng). Yêu cầu bị đơn thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, và chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc thực nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng kể từ ngày 14/6/2019 cho đến khi thanh toán hết nợ gốc.

Án phí do bị đơn chịu.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa để giải quyết vụ án,

cũng không gởi văn bản trả lời về nội dung đơn kiện mặc dù đã được tòa tống đạt thông báo thụ lý và triệu tập đến tòa để giải quyết vụ kiện.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Bình Thạnh phát biểu

về việc chấp hành đúng quy định tại bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và xác định: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng.

Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại

phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu bị

đơn trả tiền vốn và lãi quá hạn tính đến ngày 22/10/2019 số tiền là 23.884.814 đồng (trong đó nợ gốc là 11.586.776 đồng, lãi là 12.298.038 đồng) theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 18/9/2015, mục đích vay của bị đơn là tiêu dùng cá nhân. Đây là

“Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, bị đơn có địa chỉ tại số 528 đường Bình Quới,

Phường 28, Quận Bình Thạnh ,Thành phố Hồ Chí Minh .

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự,

đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình

Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về người tham gia tố tụng và sự có mặt của các đương sự:

Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo

về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết

định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý

do.

Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét

xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ là

23.884.814 đồng (trong đó nợ gốc là 11.586.776 đồng, lãi là 12.298.038 đồng),yêu cầu

trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp

đồng sử dụng thẻ tín dụng, Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng của nguyên đơn do bị

đơn ký ngày 18/9/2015 đã được nguyên đơn xét duyệt ngày 23/9/2015 và được cấp

thẻ tín dụng số 5331470000162531 và 970428090006277 hạn mức 10.000.000đ và các

tóm tắt sao kê thì có đủ căn cứ chứng minh nguyên đơn đã cấp cho bị đơn thẻ tín dụng

với hạn mức 10.000.000đ.

Quá trình giao dịch bị đơn đã thực hiện giao dịch bằng thẻ tín dụng với tổng số

tiền là 19.352.158 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã

chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng của bị đơn, chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá

hạn và khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem

xét.

Theo Tóm tắt sao kê do nguyên đơn nộp, tính đến ngày 22/10/2019 bị đơn còn

nợ số tiền là 23.884.814 đồng (trong đó nợ gốc là 11.586.776 đồng, lãi là 12.298.038

đồng). Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực

pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này của nguyên đơn là đúng và có đủ cơ

sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị đơn phải trả số tiền 23.884.814 đồng (trong

đó nợ gốc là 11.586.776 đồng, lãi là 12.298.038 đồng) cho nguyên đơn, trả một lần

ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn tiếp tục chịu lãi phát sinh

kể từ ngày 22/10/2019 trên số dư nợ gốc thực nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp

đồng cho đến khi thanh toán hết nợ gốc: Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này phù

hợp với thỏa thuận của các bên được quy định tại Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín nên có đủ cơ sở để chấp nhận.

- Về án phí :

Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu toàn bộ án

phí dân sự sơ thẩm .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 91,

93,94, Điều 147, 203,207,208, 220, 227,228, 266, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005;

Áp dụng Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á.

Buộc ông Đặng Vân Đ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần

Nam Á số tiền 23.884.814 đồng (trong đó nợ gốc là 11.586.776 đồng, lãi là 12.298.038 đồng) phát sinh từ Thẻ tín dụng do Ngân hàng cấp theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/9/2015.Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông Đặng Vân Đ còn phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần

Nam Á tiền lãi và phí phát sinh kể từ ngày 22/10/2019 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/9/2015 trên số dư nợ gốc thực nợ cho đến khi thanh toán hết nợ gốc.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Đặng Vân Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.194.291 đồng. Nộp tại

Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á số tiền tạm ứng án phí, lệ

phí đã nộp là 471.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0005090 ngày 01/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo

tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ