- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP V - Nguyễn Văn A"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Thông tư 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng N1;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1852/2026/DS-ST Ngày: 27/08/2026 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lưới. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Ngọc Kính 2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Kim Cường - Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 08 năm 2026 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1393/2026/TLST-DS ngày 25 tháng 05 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3362/2026/QĐXXST-DS ngày 14/07/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 4150/2026/QĐST-DS ngày 10/08/2026, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V Địa chỉ: H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị. Đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Xuân S – Trưởng phòng xử lý nợ pháp lý khách hàng cá nhân 6, (văn bản ủy quyền lập ngày 07/11/2025). Người đại diện theo ủy quyền (ủy quyền lại): Ông Trần Lâm N, sinh năm: 2003 Địa chỉ: A L, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 29/05/2026), (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt). 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm: 1999. Địa chỉ: D D, Phường A, Quận H (nay là phường C), Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/12/2025, bản tự khai ngày 27/08/2026 đại diện của nguyên đơn ông Trần Lâm N trình bày:
Ngày 19/06/2024, ông Nguyễn Văn A có ký với Ngân hàng TMCP V (V1) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 19/06/2024) với hạn mức tín dụng đề nghị là 60.000.000 đồng và hạn mức được chấp thuận là 58.800.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 3,29%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông Nguyễn Văn A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 597.506.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ ông Nguyễn Văn A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 527.578.000 đồng (theo thứ tự thanh toán tại Điều 8 Phần D Điều kiện giao dịch chung về cấp tín dụng dành cho khách hàng cá nhân tại V1). Ông Nguyễn Văn A vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 8 Phần D Điều kiện giao dịch chung về cấp tín dụng dành cho khách hàng cá nhân tại V1.
Về hạn mức tín dụng được chấp thuận: Hạn mức tín dụng mà ông Nguyễn Văn A đề nghị tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 19/06/2024 là 60.000.000 đồng. Tuy nhiên, đây là hạn mức do khách hàng đề xuất; hạn mức tín dụng thực tế được cấp còn phụ thuộc vào kết quả thẩm định, quyết định và phê duyệt cấp tín dụng của V1. Do đó, hạn mức tín dụng ban đầu được V1 phê duyệt và cấp cho ông Nguyễn Văn A là 58.800.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ tháng 06/2024 đến tháng 03/2025, ông Nguyễn Văn A thực hiện thanh toán đầy đủ dư nợ phát sinh theo các kỳ sao kê. Trên cơ sở quá trình sử dụng và lịch sử thanh toán của khách hàng, ngày 29/03/2025, V1 đã tăng thêm hạn mức tín dụng cho ông Nguyễn Văn A số tiền 11.760.000 đồng. Như vậy, tổng hạn mức tín dụng mà ông Nguyễn Văn A được V1 cấp sau khi điều chỉnh là 70.560.000 đồng (Bảy mươi triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).
Ngày 07/06/2025, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 11 Phần D Điều kiện giao dịch chung về cấp tín dụng dành cho khách hàng cá nhân tại V1, tính đến ngày 27/08/2026, ông A còn nợ các khoản sau: nợ gốc: 70,535,182 đồng, lãi quá hạn: 71.437.848 đồng. Tổng cộng: 141.973.030 đồng (một trăm bốn mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn ba mươi đồng).
Do khách hàng trễ hạn trả nợ nên Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn A trả cho Ngân hàng TMCP V toàn bộ số tiền nợ phải trả là: 141.973.030 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn ba mươi đồng) bao gồm nợ gốc: 70.535.182 đồng và lãi quá hạn: 71.437.848 đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Văn A còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận kể từ ngày 28/08/2026 cho đến khi trả hết số nợ vay cho Ngân hàng V1. Ông Trần Lâm N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn A mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Ngân hàng TMCP V khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Văn A. Đây là tranh chấp về hợp đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[1.2] Bị đơn cung cấp địa chỉ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/06/2024 tại D D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh), nên theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/06/2025, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/06/2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Về việc xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Lâm N có đơn yêu cầu vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Ông Nguyễn Văn A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đương sự, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Văn A vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch dân sự giữa Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Văn A được thực hiện vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để giải quyết vụ án.
Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Tòa án triệu tập ông Nguyễn Văn A đến Tòa án để ghi nhận ý kiến, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP V nhưng ông A không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy, ông A đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình và phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử lấy yêu cầu khởi kiện, lời trình bày và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp làm chứng cứ giải quyết vụ án.
Căn cứ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/06/2024 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, bảng tóm tắt sao kê, lời khai của đại diện nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thì đủ cơ sở xác định Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Văn A với hạn mức sử dụng là 70.560.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông A đã thực hiện các giao dịch và còn nợ Ngân hàng TMCP V tính đến ngày 27/08/2026 là 141.973.030 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn không trăm ba mươi đồng), trong đó nợ gốc: 70.535.182 đồng, lãi quá hạn: 71.437.848 đồng.
Ông Nguyễn Văn A đã vi phạm thỏa thuận tại các điều khoản mà hai bên đã giao kết, vi phạm Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”;
Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật…”.
Tại khoản 9 Điều 1 Thông tư 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng N1 quy định về nguyên tắc sử dụng thẻ: “2. Khi sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ được thấu chi, chủ thẻ phải sử dụng tiền đúng mục đích và thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho TCPHT các khoản tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo hợp đồng đã giao kết với TCPHT.”.
Đối chiếu các quy định như trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền thẻ tín dụng tính đến ngày 27/08/2026 là: 141,973,030 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn ba mươi đồng), trong đó nợ gốc: 70,535,182 đồng, lãi quá hạn: 71,437,848 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Từ những lý lẽ đã viện dẫn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Áp dụng Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/06/2025 quy định về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
Áp dụng Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/06/2025 quy định về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân;
Áp dụng Thông tư 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng N1;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2025; Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP V.
1.1. Buộc ông Nguyễn Văn A có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 141.973.030 đồng (một trăm bốn mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi ba ngàn không trăm ba mươi đồng), trong đó nợ gốc: 70.535.182 đồng, lãi quá hạn: 71.437.848 đồng.
1.2. Kể từ ngày 28/08/2026, ông Nguyễn Văn A còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/06/2024 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP V thì lãi suất mà ông Nguyễn Văn A phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP V theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP V.
2. Về án phí:
2.1. Ông Nguyễn Văn A chịu 7.098.652 đồng (bảy triệu không trăm chín mươi tám ngàn sáu trăm năm mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. H lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.698.175 đồng (hai triệu sáu trăm chín mươi tám ngàn một trăm bảy mươi lăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0028733 ngày 08 tháng 05 năm 2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 34, Điều 36 và Điều 71 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu Vực 10; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Lưới |