vanban.org

Bản án 185

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lô Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lô Văn P 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/12/2022. Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo số tiền 5.200.000đ để tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lô Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ T
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 185 /2023/ HSST.
Ngày: 25/4/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN T PHỐ T

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan A

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân T

Bà Mai Thị T

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu T - Thư ký TAND TP. T.

Đại diện Viện kiểm sát ND T phố T tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Hồng O - Kiểm sát viên.

Ngày 25/4/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân T phố T xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 207/2023/HSST ngày 29/3/2023 tại hai điểm cầu. Điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân T phố T và tại điểm cầu T phần: Trụ sở Công an T phố T, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2023/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo: Lô Văn P - sinh ngày 23/2/2002; ĐKNKTT tại: thôn L, xã L, huyện T, tỉnh T; nơi ở hiện nay: SN 240 B, phường H, T phố T, tỉnh T; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Lô Văn C và con bà Bùi Thị D; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: 22/12/2022; tạm giam: 30/12/2022. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T phố T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng:

Anh Lê Đức T - Sinh năm: 1994 (Vắng mặt) Nơi cư trú: SN 58 đường H, phố 2, phường Q, T phố T, tỉnh T.

* Những người tham gia tố tụng hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu T phần:

- Ông Lê Khánh T

- Kiểm sát viên.

- Ông Nguyễn Duy N - Thư ký Tòa án

- Cán bộ hỗ trợ tư pháp thuộc Cơ sở giam giữ Công an T phố T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Lô Văn P bị Viện kiểm sát nhân dân T phố T truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do không có công việc ổn định, Lô Văn P nảy sinh ý định bán ma túy để kiếm lời; khoảng 19h ngày 21/12/2022, Lô Văn P tìm gặp và mua được ma túy của một người đàn ông tên T, tại khu vực T, phường Đ, T phố T. Tại đây, P mua được 05 (năm) viên thuốc lắc và 01 (một) túi ketamine với giá 4.600.000đ (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) từ T, sau đó P cất giấu ma túy trong người đi về. Đến khoảng 20h cùng ngày, tại trước số nhà 210 Đ, phường Đ, T phố T, P đã bán cho Trịnh Thu H, sinh ngày 28/12/2004, thường trú tại thôn H, xã H, huyện N, tỉnh T; hiện ở SN 390 L, phường Đ, T phố T số ma túy trên với giá 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng).

Sau khi mua được ma túy, H cất giấu trong túi áo và điều khiển xe mô tô BKS 36B2 - 40105 đi tìm nơi sử dụng. Trong quá trình di chuyển, H làm rơi mất 05 (năm) viên thuốc lắc. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi H đi đến trước khách sạn P, Phố 2, phường Q, T phố T thì bị Tổ công tác của Đội CSĐTTP về ma túy phối hợp cùng Công an phường Q, T phố T kiểm tra. Nhận thức được sai phạm của mình H tự giao nộp cho Tổ công tác 01 (một) túi ketamine vừa mua chưa kịp sử dụng; Tổ công tác đưa H về trụ sở Công an phường Q, T phố T lập biên bản.

Sáng ngày 22/12/2022, Lô Văn P đến trụ sở Công an phường Q, T phốT đầu thú, khai nhận việc bán 05 viên thuốc lắc và túi ketamine cho Trịnh Thu H lấy 5.200.000đ. Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của P tại SN 240 B, phường H, T phố T nhưng không phát hiện, thu giữ gì.

Kết luận giám định số 167/KL - KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh T kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng bên trong túi nilong màu trắng thu giữ của Trịnh Thu H là ma túy; loại Ketamine, có tổng khối lượng là: 0,151g (không phẩy một năm một gam).

Về vật chứng thu giữ, xử lý:

-Hoàn lại mẫu vật giám định gồm toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,125 gam (không phẩy một hai năm gam) chất cục bột màu trắng loại: Ketamine

- 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh, bên trong có gắn số sim 0346808321 thu giữ của Lô Văn P. Toàn bộ vật chứng trên đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự T phố Thanh Hoá để chờ xử lý theo quy định.

Đối với 05 viên ma túy thuốc lắc H mua của P,H khai báo làm rơi mất. Căn cứ lời khai của H cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không phát hiện thu giữ được 05 viên thuốc lắc.

Đối với chiếc điện thoại đi dộng nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, tạm giữ của Trịnh Thu H, không liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật. Cơ quan điều tra đã giao trả chiếc điện thoại trên cho Trịnh Thu H quản lý sử dụng.

Đối với lỗi vi phạm hành chính về giao thông trật tự của Trịnh Thu H, Cơ quan điều tra chuyển các tài liệu liên quan và xe mô tô BKS 36B2 - 401.05 đến đội Cảnh sát giao thông, trật tự - Công an TP T xử lý theo quy định.

Đối với người đàn ông tên T đã bán ma túy cho P tại khu vực Trại Gà, phường Đ, T phố T, tuy nhiên không rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra đã xác minh tại khu vực trên nhưng không có người nào tên T có độ tuổi và đặc điểm như P khai báo. Ngoài lời khai của P, cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ xác định người tên T bán ma túy cho P nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi tàng trữ 0,151 gam ma túy Ketamine của Trịnh Thu H, quan điều tra chuyển Công an T phố T xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ - CP của Chính phủ.

Cáo trạng số 152/CT - VKS - TPTH ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân T phố T truy tố Lô Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố T luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù. Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo số tiền 5.200.000đ để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy và tịch thu nộp Ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động Realme. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân T phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vào hồi 20 giờ ngày 21/12/2022, tại khu vực trước số nhà 210 Đ, phường Đ, T phố T, Lô Văn P đã có hành vi bán cho Trịnh Thu H 0,151gam Ketamine để kiếm lời.

Trịnh Thu H đã có hành vi mua trái phép 0,151gam Ketamine tàng trữ để sử dụng thì bị phát hiện thu giữ. Khối lượng Ketamine H tàng trữ dưới 01gam, chưa có tiền án, tiền sự về hành vi liên quan đến chất ma túy. Cơ quan điều tra chuyển Công an TP T xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lô Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Lô Văn P đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS.

. Trong vụ án này bị cáo biết rõ các tệ nạn về ma túy, nhất là người nghiện ma túy không những tha hóa về phẩm chất đạo đức, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội và sự thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đặc biệt ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS phát triển, bị cáo cũng vì lợi nhuận dẫn đến việc phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân, tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

Bị cáo là đối tượng nhân thân chưa có tiền án tiền sự, nhưng lại phạm loại tội nghiêm trọng. Vì lẽ đó cần phải cách ly khỏi xã hội để bị cáo có thời gian cải tạo, sữa chữa sai phạm. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là T khẩn khai báo và đầu thú. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này bị cáo mua ma túy để bán nhưng số lượng ma túy ít, bản thân bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 5.200.000đ bị cáo đã bán ma túy và thu được số tiền, đây là tiền do bị cáo dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có, cần truy thu số tiền 5.200.000đ của bị cáo để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về vật chứng: Một phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T cùng với 01 điện thoại di động Realme màu xanh, điện thoại gắn kèm sim đã qua sử dụng là P tiện dùng vào việc phạm tội, cần áp dụng khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Realme.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS; khoản 1, khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lô Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lô Văn P 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/12/2022.

- Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo số tiền 5.200.000đ để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T, có hình dấu của Phòng kỹ thuật, kèm chữ ký, chữ viết của Lê Minh Tiến, Trịnh Thị Thu H.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Realme màu xanh, điện thoại gắn kèm sim, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra được số Imel của máy. Toàn bộ vật chứng được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự T phố Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng số 150/2023/THA ngày 07 tháng 4 năm 2023.

-Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Xuân T

Mai Thị T

Nguyễn Thị Lan A Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh T; -VKSND TPTH;

- Công an TP. T; -Lưu hồ sơ vụ án./.

Nguyễn Thị Lan Anh T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Xuân Tính

Mai Thị Tiếp

Nguyễn Thị Lan Anh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh T; -VKSND TPTH;

- Công an TP. T; -Lưu hồ sơ vụ án./.

Nguyễn Thị Lan Anh T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cát Tưởng

Nguyễn Thị Loan

Nguyễn Thị Lan Anh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Bị cáo; NLQ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh T; -VKSND TPTH;

- Công an TP. T; -Lưu hồ sơ vụ án./.

Nguyễn Thị Lan Anh

T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Dũng

Lê Việt Cường

Nguyễn Thị Lan Anh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh T; -VKSND TPTH;

- Công an TP. T; -Lưu hồ sơ vụ án./.

Nguyễn Thị Lan Anh

T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hạnh

Nguyễn Thị Thanh Thủy

Nguyễn Thị Lan Anh

Cỡ chữ