vanban.org

Bản án 185/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo Mã Tuấn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/4/2026. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mã T H - Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 18
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2026/HS-ST
Ngày: 02-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Nga;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2026, Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần tại Trại Tạm giam số 2, Công an Thành phố H, đối với vụ án hình sự thụ lý số: 222/2026/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2026, đối với bị cáo:

Mã Tuấn H, sinh năm 1984 tại tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ thường trú và chỗ ở: Tổ A, khu phố L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Mã Tuấn K, sinh năm 1955 và bà Trương Thị Huỳnh L, sinh năm 1956; có vợ là Triệu T, sinh năm 1983 (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 15/7/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 94/2014/HSST, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2016; chấp hành xong án phí ngày 13/10/2014.

- Ngày 28/6/2019, Giám đốc Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương ra Quyết định số 238/QĐ-CSCNMT đưa Mã Tuấn H vào cơ sở cai nguyện tự nguyện. Bị cáo hoàn thành cai nghiện vào ngày 28/12/2019. Ngày 06/11/2025, Chủ tịch UBND phường B, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 1186/QĐ-UBND quản lý sau cai nghiện đối với bị cáo, thời hạn quản lý từ ngày 04/11/2025 đến ngày 04/11/2027.

Bị bắt tạm giam tại Trại Tạm giam số 2, Công an Thành phố H từ ngày 01/4/2026 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mã Tuấn H là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số 1186/QĐ-UBND ngày 06/11/2025 của Ủy ban nhân dân phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, thời hạn quản lý từ ngày 04/11/2025 đến ngày 04/11/2027.

Khoảng tháng 11/2025, Mã Tuấn H đi đến khu vực thuộc công viên M thuộc khu phố A, phường B, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người tên A (không rõ lai lịch) mua được 300.000 đồng ma túy đá loại Methamphetamine. Sau đó, H đem về nhà thuộc khu phố L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu.

Đến khoảng 10 giờ ngày 13/3/2026, sau khi dọn dẹp vệ sinh trong nhà, Mã Tuấn H sử dụng 01 chai nước suối, 01 ống hút nhựa chế tạo thành bộ dụng cụ gắn nỏ thủy tinh vào rồi lấy ma túy mua được trước đó đem ra sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy, H bỏ nỏ vào bồn cầu, còn chai nước để sử dụng H vứt vào thùng rác.

Khoảng 15 giờ ngày 13/03/2026, Công an phường B tiến hành kiểm danh, kiểm diện đối tượng đang thuộc diện quản lý cai nghiện ma túy và mời làm việc đối với Mã Tuấn H. Tiến hành test nhanh nước tiểu của Mã Tuấn H cho ra kết quả dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

Bản Kết luận giám định số 6304/KL-KTHS ngày 20/03/2026 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Mẫu nước tiểu của Mã Tuấn H gửi giám định có thành phần ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Mã Tuấn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 95/CT-VKSHCM-KV ngày 20/6/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Mã Tuấn H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Bị cáo không bào chữa, không có tranh luận gì với Đại diện Viện Kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra viên; viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ cở sở để kết luận: Bị cáo Mã Tuấn H hoàn thành việc cai nghiện ma túy tự nguyện vào ngày 28/12/2019. Ngày 06/11/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 1186/QĐ-UBND, thời hạn quản lý từ ngày 04/11/2025 đến ngày 04/11/2027 đối với Mã Tuấn H. Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy, thì vào khoảng 10 giờ, ngày 13/3/2026, tại nhà của H thuộc khu phố L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo H tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.

Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết ma tuý là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép. Nhưng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả, thể hiện sự liều lĩnh và thái độ xem thường pháp luật.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Ma túy là một loại chất độc gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cũng là mầm mống lan truyền căn bệnh của xã hội như HIV,... Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, bản Cáo trạng số 95/CT-VKSHCM-KV ngày 20/6/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Ngày 15/7/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 94/2014/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2016.

Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đối tượng tên A không rõ lai lịch đã bán ma túy cho bị cáo, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo Mã Tuấn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/4/2026.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án./.

Cỡ chữ