- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/7/2025.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 185/2025/HS-ST Ngày 18-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Dương Thị Phương Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Tây
Bà Nguyễn Thị Xuân Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Lộc – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 139/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2025/QĐXXST-HS ngày 23/10/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S – Sinh năm 1986 Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn L, xã A, tỉnh H; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Nguyễn T (đã chết); Họ tên mẹ: Bùi Thị C (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Ngọc T – sinh năm 1983; Con: Nguyễn Thanh T – sinh năm 2012.
Tiền án: không
Tiền sự: 01
Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 20/01/2025 của Công an phường N, thành phố R về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”
Nhân thân:
- Ngày 02/11/2015, bị Công an xã B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 26/01/2016, bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh H xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 28/4/2016.
- Ngày 08/12/2022, bị Công an thành phố R xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2025 tại Phân trại tạm giam khu vực Nha Trang – Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh H.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Ngô Hồng Q – sinh năm 1981 Địa chỉ: Tổ 4 khóm B, phường BT, tỉnh H Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 14/7/2025, tổ công tác Công an phường BT tiến hành tuần tra kiểm soát địa bàn, khi đến ngã ba đường T thuộc tổ T P 2, phường BT, tỉnh H phát hiện Nguyễn Văn S có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Tiến hành kiểm tra, S tự giao nộp 01 bịch ni long có khóa hằn miệng màu xanh, kích thước (1,5x2) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu A) và 01 bịch ni long có khóa hằn miệng màu đỏ bên trong chứa chất bột nén màu trắng (niêm phong ký hiệu B). S khai nhận ma túy do S mua của một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực tổ T P 2, phường BT, tỉnh H để sử dụng cho bản thân.
Tại Bản kết luận giám định số 332/2025/KL-KTHS ngày 18/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hkết luận:
+ Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định có khối lượng 0,1127g ma túy, loại Methaphetamine.
+ Chất bột nén màu trắng trong mẫu ký hiệu B gửi giám định có khối lượng 0,2532g là ma túy, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSKV1 ngày 17/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - H đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 1 - H để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Nguyễn Văn S, Cơ quan điều tra – công an tỉnh H đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - H giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn S đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh:
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Bị cáo Nguyễn Văn S đã thừa nhận hành vi đã tàng trữ bất hợp pháp 0,1127g ma túy, loại Methaphetamine và 0,2532g ma túy, loại Heroine bị phát hiện ngày 14/7/2025 mục đích để sử dụng cho bản thân; lời khai nhận của bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là có thật, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Văn S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 07/CT-VKSKV1-HS ngày 17/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – H truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Chính vì vậy mà hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn S cần được xử lý nghiêm khắc, cách ly ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân vào pháp luật, góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ma tuý.
. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, an tâm cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
. Các vấn đề khác: Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Nguyễn Văn S, Cơ quan điều tra – công an tỉnh H tiếp tục điều tra làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2025;
- Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/7/2025.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về các vấn đề khác: Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H điều tra xác minh lai lịch của người thanh niên đã bán ma túy cho Sơn, nếu có đủ căn cứ thì xử lý theo quy định.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 1 – H; - VKSND tỉnh H; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh H; - TAND tỉnh H; - Thi hành án Dân sự tỉnh H; - Lưu án văn, hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Đào Dương Thị Phương Dung |