- Tranh chấp gì? án hình sự — "GIÀNG A CH -MBTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 185/2024/HS-ST Ngày 03 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Vinh; ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 189/2024/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Giàng A Ch, sinh năm 1985, tại Mù Cang Ch, Yên Bái.
Nơi cư trú: Bản Bướm o, xã Chiềng Kh, huyện Sông M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Giàng A Th (đã chết) và bà Hàng Thị S; bị cáo có vợ là Mùa Thị S (đã ly hôn) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/03/2024 cho đến nay; có mặt.
2. Mùi Văn M, sinh năm 2001, tại Phù Y, Sơn La.
Nơi cư trú: Bản Suối L, xã Nam Ph, huyện Phù Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Mùi Văn B và bà Lường Thị H; bị cáo Cha có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án Ngày 16/03/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 09 tháng tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/03/2024 cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 40 phút ngày 10/3/2024 tổ công tác Công an xã Chiềng Kh, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ phòng chống ma tuý tại bản Bó Luông, xã Chiềng Kh, huyện Sông Mã phát hiện một xe mô tô (trên xe có hai người đàn ông) hướng từ bản Bướm Ỏ về bản Bó Luông, xã Chiềng Kh có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma tuý nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra hành chính. Khi dừng lại đối tượng điều khiển xe mô tô khai nhận tên là Giàng A Ch, sinh năm 1985 trú tại bản Bướm o, Chiềng Kh, người ngồi sau tên là Mùi Văn M, sinh năm 2001 trú tại bản Suối L, xã Nam Ph, huyện Phù Y, tỉnh Sơn La. Qua làm việc, phát hiện trong lòng bàn tay phải của M có một túi nilon màu đen và 01 gói nilon màu xanh, bên trong túi nilon màu đen chứa 03 viên nén màu hồng với một gói nilon màu hồng và một gói nilon màu xanh, bên trong các gói nilon đều chứa chất bột liên kết màu trắng (theo M khai nhận là Hồng phiến và Heroine nhờ Ch mua giúp). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ch và M, thu giữ và niêm Ph vật chứng nghi là ma tuý; ngoài ra tạm giữ của Ch 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave biển kiểm soát 89K-4118; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Gionee và tạm giữ của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo.
Ngày 11/3/2024 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm Ph đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả:
- 03 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,31 gam đã trích 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,10 gam để làm mẫu gửi giám định, ký hiệu C1; vật chứng còn lại là 02 viên có khối lượng 0,21 gam ký hiệu L1.
- Số bột màu trắng trong các gói nilon có khối lượng là 2,74 gam đã trích 0,14 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu C2, vật chứng còn lại là 2,60 gam ký hiệu L2.
Tại bản kết luận giám định số 678/KL ngày 13/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
- Mẫu ký hiệu C1 gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam.
- Mẫu ký hiệu C2 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14 gam.
- Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,31 gam, loại Methamphetamine và 2,74 gam; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
Quá trình điều tra các bị cáo Giàng A Cha và Mùi Văn M khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 09/3/2024 M đem theo số tiền 800.000 đồng (là tiền do M lao động tiết kiệm mà có) rồi bắt xe khách từ huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên về huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Khoảng 05 giờ ngày 10/3/2024 khi xe khách về đến bản Púng, xã Chiềng Kh, huyện Sông Mã thì M xuống xe và trả tiền hết 300.000 đồng, sau đó M gọi điện thoại cho Ch (là người quen của M, do trước đây M đã lên bản Bướm Ỏ có quen và đã vào nhà của Ch), nhờ ra Quốc lộ 4G đón M thì Ch đồng ý. Sau khi Ch xuống đón M về đến nhà Ch ở bản Bướm Ỏ, xã Chiềng Kh thì M đưa cho Ch số tiền 500.000 đồng, bảo Ch đi mua 400.000 đồng tiền Heroine và 100.000 đồng tiền Hồng phiến thì Ch đồng ý, đưa tiền cho Ch xong thì M lên giường ngủ. Ch đem theo số tiền đi ra ngoài đường thuộc bản Bướm Ỏ, xã Chiềng Kh, huyện Sông Mã thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái (không rõ danh tính), Ch hỏi mua được 05 viên Hồng phiến và 01 cục Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với số tiền 500.000 đồng từ người đàn ông này. Mua được ma tuý, trên đường về Ch đã trích ra một ít Heroine và 01 viên Hồng phiến để sử dụng bằng hình thức hít, sau đó gói số ma tuý còn lại rồi đem về cho M. Khi Ch về đến nhà thấy M đang ngủ nên Ch để số ma tuý ở chân giường và có nói lại cho M về việc đã mua được ma tuý, đồng thời Ch nói với M đã lấy công của Ch là 01 viên Hồng phiến với một ít Heroine, Ch đã sử dụng hết. Sau đó, Ch đi vào rừng để chổ gỗ, ngủ một lúc sau M dậy lấy một viên Hồng phiến ra bẻ thành hai phần, một phần bị rơi xuống nước nên M đã vứt đi, M sử dụng phần còn lại bằng hình thức đốt hít. Sử dụng ma tuý xong, M nhặt mảnh nilon màu xanh và mảnh nilon màu hồng dưới nền nhà để tách phần Heroine gói thành ba gói riêng (hai gói mà xanh và 01 gói màu hồng), tiếp đó M lấy một túi nilon màu đen gói chung 03 viên Hồng phiến với hai gói Heroine với nhau (một gói màu xanh, một gói màu hồng), một gói Heroine màu xanh M để riêng ra ngoài, rồi giấu tất cả số ma tuý xuống dưới đệm giường M đang ngủ. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Ch về nhà và nấu cơm cùng M ăn, đến khoảng 16 giờ khi M đang ở nhà Ch thì xe khách mà M đã đặt đi về tỉnh Hưng Yên gọi nên M đã lấy số ma tuý gói được trước đó cầm ở lòng bàn tay phải rồi nhờ Ch chở ra Quốc lộ 4G. Ch điều khiển xe mô tô chở theo M đi ra Quốc lộ 4G, khi đến địa phận bản Bó Luông, xã Chiềng Kh, huyện Sông Mã thì bị tổ công tác Công an xã Chiềng Kh làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu.
Cáo trạng số 133/CT-VKSSM ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Giàng A Ch về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; xét xử bị cáo Mùi Văn M về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Giàng A Ch, Mùi Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Giàng A Ch phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Mùi Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Giàng A Ch từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Mùi Văn M từ 04 năm đến 04 năm 06 tù.
Đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị:
- Tịch thu để tiêu hủy 0,21 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong túi nilon màu trắng; 2,60 gam ma túy, loại Heroine đựng trong túi nilon màu trắng; 01 túi nilon màu đen; 01 mảnh nilon màu hồng; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ Ph bì thư niêm Ph vật chứng ban đầu đã bóc mở;
- Trả lại cho bị cáo Giàng A Ch 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu xanh đen, BKS: 89K-4118, số khung: 012543, số máy: 2262559 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Gionee, màu đỏ đen, số IMEL: 860794027926374 có gắn 02 thẻ sim.
- Trả lại cho bị cáo Mùi Văn M 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số IMEI1: 866512045151518; số IMEI2: 866512045151500, có gắn 02 thẻ sim.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Giàng A Ch, Mùi văn M.
Các bị cáo Giàng A Ch, Mùi Văn M không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 10/03/2024 bị cáo Giàng A Ch đồng ý nhận số tiền 500.000 đồng của Mùi Văn M đi mua giúp được 05 viên Hồng phiến và một lượng Heroine. Giàng A Ch được hưởng lợi 01 viên Hồng phiến và một lượng Heroine. Khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày tại bản Bó Luông, xã Chiềng Kh, Sông Mã, trên đường Giàng A Ch chở Mùi Văn M ra quốc lộ 4G để đón xe về Hưng Yên thì bị tổ công tác Công an xã Chiềng Kh, Sông Mã phát hiện bắt quả tang bị cáo Mùi Văn M có hành vi cất giấu 03 viên hồng phiến, khối lượng 0,31 gam và Heroine, khối lượng 2,60 gam. Tổng khối lượng của 02 chất ma túy là 4,05 gam, mục đích để sử dụng.
Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo Giàng A Ch về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Mùi Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; phát biểu luận tội của của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị mức xử phạt tù giam đối với các bị cáo về các tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Giàng A Ch thực hiện đã phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Hành vi mà bị cáo Mùi Văn M thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.
Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Giàng A Ch và bị cáo Mùi Văn M thực hiện hành vi phạm tội độc lập, không đồng phạm trong cùng một hành vi, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi mà mình đã thực hiện.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Giàng A Ch không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo Mùi Văn M có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; khối lượng ma túy các bị cáo cất giấu nhằm mục đích sử dung; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của các bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy các bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về các vấn đề liên quan: Đối với người đàn ông dân tộc Thái, không rõ tên, địa chỉ là người đã bán ma tuý cho bị cáo Giàng A Ch tại bản Bướm Ỏ, xã Chiềng Kh, Sông Mã ngày 10/03/2024. Do không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,21 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong túi nilon màu trắng; 2,60 gam ma túy, loại Heroine đựng trong túi nilon màu trắng; 01 túi nilon màu đen; 01 mảnh nilon màu hồng; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ Ph bì thư niêm Ph vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dung, nên cần tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu xanh đen, BKS: 89K-4118, số khung: 012543, số máy: 2262559 thu giữ của bị Giàng A Ch. Được xác định là tài sản của bị cáo Giàng A Ch, nhưng bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Gionee, màu đỏ đen, số IMEL: 860794027926374 có gắn 02 thẻ sim, thu giữ của bị cáo Giàng A Ch và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số IMEI1: 866512045151518; số IMEI2: 866512045151500, có gắn 02 thẻ sim, thu giữ của bị cáo Mùi Văn M. Được xác định là tài sản của các bị cáo Ch và M, những các bị cáo đều không sử dụng vào mục đích phạm tội, nên cần trả lại cho các bị cáo.
Về án phí: Các bị cáo Giàng A Ch, Mùi Văn M đều là người dân tộc, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Giàng A Ch phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Mùi Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Giàng A Ch 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/03/2024.
- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Mùi Văn M 04 (bốn) năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/03/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu để tiêu huỷ 0,21 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong túi nilon màu trắng; 2,60 gam ma túy, loại Heroine đựng trong túi nilon màu trắng; 01 túi nilon màu đen; 01 mảnh nilon màu hồng; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ Ph bì thư niêm Ph vật chứng ban đầu đã bóc mở.
(các vật chứng được đựng trong một Ph bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành được niêm Ph, giấy dán niêm Ph có mã số 080384).
- Trả lại cho bị cáo Giàng A Ch 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu xanh đen, BKS: 89K-4118, số khung: 012543, số máy: 2262559 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Gionee, màu đỏ đen, số IMEL: 860794027926374 có gắn 02 thẻ sim.
- Trả lại cho bị cáo Mùi Văn M 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số IMEI1: 866512045151518; số IMEI2: 866512045151500, có gắn 02 thẻ sim.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 128/QĐ-VKS ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 08 giờ 00 phút ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Các bị cáo Giàng A Ch, Mùi Văn M được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/7/2024).
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - VKS huyện Sông Mã; - Trại giam; - TAND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - THAHS; - CCTHADS huyện Sông Mã; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lô Văn Long |