vanban.org

Bản án 185/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 185/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10/4/2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Trần Ngọc Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Hương;

2. Bà Phạm Thị Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Trương Võ Thùy Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11 xét xử

sơ thẩm công khai Vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 190/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST ngày 01 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/3/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm 1984; địa chỉ: Xx/xx

đường Âu Cơ, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Xx/x đường Minh Mạng, Đô Vinh, Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Hà Cẩm T, sinh năm 1985; địa chỉ: Xx/xx đường Âu

Cơ, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, tường trình và các biên bản hòa

giải, nguyên đơn trình bày như sau:

Bà Nguyễn Thị Thanh V và ông Hà Cẩm T tự nguyện chung sống có

đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số xx, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/3/2010.

Vợ chồng chung sống được 01 con chung tên Hà Hân Đ, sinh ngày

06/8/2010.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu

thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống về nhiều mặt, nhất là về tình cảm. Nay bà V nhận thấy hai bên không còn thông cảm, thấu hiểu lẫn nhau. Bà V và ông T sống ly thân 04 năm. Nay nhận thấy quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, bà V yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 giải quyết cho ly hôn với ông T để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh V yêu cầu trực tiếp nuôi con

chung là trẻ Hà Hân Đ, sinh ngày 06/8/2010, đồng thời không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

2. Bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hà Cẩm T không đến

Tòa án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh V.

Theo kết quả xác minh của Công an Phường x, Quận 11, Thành phố

Hồ Chí Minh: Đương sự Hà Cẩm T, sinh năm: 1985 có hộ khẩu thường trú tại Xx/xx đường Âu Cơ, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án nhân dân Quận 11 đã thực hiện thủ tục niêm yết công khai, triệu

tập hợp lệ nhưng bị đơn không đến Tòa án giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai đối với bị đơn và không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các bên.

Tòa án nhân dân Quận 11 quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục

chung.

3. Tại phiên tòa hôm nay:

a) Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

b) Bị đơn đã được Tòa án nhân dân Quận 11 triệu tập hợp lệ nhưng bị

đơn vắng mặt, không có lý do.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc

tuân theo pháp luật như sau:

a) Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa, Thẩm phán và

Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định của pháp luật; nguyên đơn và bị đơn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án chưa đảm bảo thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử.

b) Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh V.

- Về con chung: Giao trẻ Hà Hân Đ cho bà V được trực tiếp nuôi con

chung, ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nguyên đơn chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp

luật là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra

tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Nguyễn Thị Thanh V và ông Hà Cẩm T chung sống trên cơ sở tự

nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Nay bà Nguyễn Thị Thanh V khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hà Cẩm T, bị đơn cư trú tại Quận 11 nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 11 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn:

Ngày 24/02/2023, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh V có đơn đề

nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn là ông Hà Cẩm T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai

nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Về yêu cầu của đương sự:

3.1 Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị Thanh V và ông Hà Cẩm T tự tìm hiểu rồi đăng ký kết

hôn năm 2010 trên cơ sở tự nguyện nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bà

Nguyễn Thị Thanh V và ông Hà Cẩm T bất đồng quan điểm trong cuộc sống về nhiều mặt. Hai người thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn. Hai người đã tự sống ly thân hơn 04 năm nay, không ai can thiệp vào cuộc sống của nhau. Nay nhận thấy quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, bà Nguyễn Thị Thanh V yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 giải quyết cho ly hôn với ông Hà Cẩm T để hai bên sớm ổn định cuộc sống và để rõ ràng về mặt pháp lý.

Căn cứ trình bày của đương sự có thể xác định mâu thuẫn giữa bà

Nguyễn Thị Thanh V và ông Hà Cẩm T là trầm trọng và không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Bị đơn - ông Hà Cẩm T mặc dù đã được Tòa án nhân dân Quận 11

tống đạt các văn bản tố tụng, giấy triệu tập đầy đủ và hợp lệ nhưng không đến Tòa án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh V. Điều này cho thấy rằng ông Hà Cẩm T không mong muốn và không có thiện chí trong việc hàn gắn hạnh phúc gia đình.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi

vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thanh V và ông Hà

Cẩm T đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thật sự không còn, cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được, có duy trì hôn nhân cũng chỉ là hình thức. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh V xin ly hôn với ông Hà Cẩm T.

3.2 Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh V xin trực tiếp nuôi con

chung là trẻ Hà Hân Đ, sinh ngày 06/8/2010, đồng thời không yêu cầu ông Hà Cẩm T cấp dưỡng nuôi con.

3.3 Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh V khai không

có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Thanh V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là

300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 267, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia

đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh V.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh V và ông Hà

Cẩm T.

Giấy chứng nhận kết hôn số xx, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân

dân Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/3/2010 không còn giá trị.

2. Về con chung: Giao con chung là trẻ Hà Hân Đ, sinh ngày

06/8/2010 cho bà Nguyễn Thị Thanh V trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Thanh V không yêu cầu

ông Hà Cẩm T cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Hà Cẩm T không trực tiếp nuôi con, được quyền thăm nom,

chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được cản trở ông Hà Cẩm T thực hiện quyền này.

Vì quyền lợi của trẻ chưa thành niên, trong trường hợp có yêu cầu

của cha, mẹ, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể xem xét quyết định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Thanh V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm

là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0052901 ngày 29/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh V và ông Hà Cẩm T

vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại

cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ