vanban.org

Bản án 185/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/06/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2023/DS-ST
Ngày: 23/6/2023
V/v tranh chấp hợp đồng sử dụng
thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phú Minh Thông;

2. Bà Nguyễn Thị Hiếu.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Phan Duy Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Minh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 61/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3892/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4251/2023/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Trụ sở chính: Số B - B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M, sinh năm 1970

- Đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số 1259/2023/UQ-TGĐ ngày 28/02/2023); Địa chỉ: Số B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Ngô Đăng Q, sinh năm 1993

Địa chỉ: Số A, đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lã Ngọc M vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Ngô Đăng Q vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/12/2022, bản tự khai đề ngày 23/6/2023 và quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S do ông Lã Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 09/7/2019, ông Ngô Đăng Q có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ vào thu nhập của ông Q, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 436438-0414 với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 87.257.017 đồng, phí trễ hạn 2.270.541 đồng, lãi 69.508.310 đồng, phí vượt hạn mức 659.053 đồng, phí 4.085.000 đồng. Ông Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 75.619.500 đồng (thứ tự thanh toán căn theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông Q không có thiện chí trả nợ. Do ông Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 06/3/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ đến ngày 23/6/2023 thành nợ gốc là 56.153.021 đồng và áp dụng lãi suất nợ quá hạn tính trên nợ gốc (bằng 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Kể từ ngày 23/6/2023, ông Q chỉ phải chịu khoản tiền lãi quá hạn mà không bị tính thêm các loại phí nào khác.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Ngô Đăng Q thanh toán số tiền của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng còn lại tính đến ngày 23/6/2023 là 88.160.421 đồng (bao gồm nợ gốc là 56.153.021 đồng và nợ lãi là 32.007.400 đồng). Và ông Q có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/6/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Thanh toán ngay khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Ngân hàng chỉ yêu cầu một mình ông Q có trách nhiệm thanh toán tiền sử dụng thẻ còn nợ, ngoài ra không yêu cầu ai cùng có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Ngô Đăng Q đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt nên Tòa án không thu thập được ý kiến và tài liệu chứng cứ của ông Q đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và không có kiến nghị gì về tố tụng. Và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Căn cứ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng của các bên và Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Ngô Đăng Q thanh toán số tiền của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng còn lại tính đến ngày 23/6/2023 là 88.160.421 đồng (bao gồm nợ gốc là 56.153.021 đồng và nợ lãi là 32.007.400 đồng) và lãi phát sinh từ ngày 24/6/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng mà các bên đã ký kết. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bị đơn ông Ngô Đăng Q giao kết hợp đồng tín dụng ngày 09/7/2019. Trong quá trình thực hiện hợp đồng do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ còn thiếu theo thỏa thuận của các bên. Căn cứ kết quả xác minh ngày 26/02/2023 của Công an phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn ông Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số A, đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã bán nhà từ năm 2018, hiện đang cư ngụ cùng với gia đình tại địa chỉ số B, đường B, Phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Phiếu yêu cầu xác minh ngày 02/3/2023 của Công an P, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Q không tạm trú và không thực tế cư trú tại địa chỉ số B, đường B, Phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó có cơ sở xác định địa chỉ số A, đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là địa chỉ ông Q đã từng cư trú mà nguyên đơn biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và đó cũng là địa chỉ giao kết trong hợp đồng tín dụng giữa hai bên. Do đó, quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp về hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về việc vắng mặt đương sự:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:

[2.1]. Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của Ngân hàng, có chữ ký xác nhận của ông Ngô Đăng Q và đại diện Ngân hàng có cơ sở xác định ngày 09/7/2019 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã cấp thẻ tín dụng cho ông Q với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, mục đích để tiêu dùng cá nhân. Việc giao kết hợp đồng tín dụng ngày 09/7/2019 giữa Ngân hàng và ông Q là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực.

[2.2]. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 87.257,017 đồng. Ông Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 75.619.500 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng).

[2.3]. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, căn cứ Bảng tóm tắt sao kê các giao dịch đã thực hiện qua thẻ tín dụng thể hiện sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Q đã thực hiện các giao dịch tính đến ngày 23/6/2023 với tổng số tiền là 87.257.017 đồng. Ông Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 75.619.500 đồng. Thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 20 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng theo lần lượt: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ. Do ông Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06/3/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Q và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 56.153.021 đồng sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

[2.4]. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bị đơn có văn bản trình bày ý kiến và cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc đã thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng, tuy nhiên dựa theo bảng sao kê lịch sử thanh toán do Ngân hàng cung cấp, không có chứng cứ nào cho thấy ông Q đã thanh toán số tiền nợ cho Ngân hàng. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Ngô Đăng Q có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc còn lại là 56.153.021 đồng.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi:

[3.1]. Căn cứ Quyết định số 935/2019 QĐ-TTT ngày 27/3/2019 và Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam thì từ thời điểm các bên ký hợp đồng mức lãi suất được thỏa thuận đối với tất cả thẻ tín dụng quốc tế S1 phát hành cho khách hàng là 2.4%/tháng. Tại Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng quy định lãi suất quá hạn là 150% lãi suất được áp dụng tại thời điểm hiện tại. Do ông Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đến ngày 06/3/2022, Ngân hàng chuyển số nợ gốc chưa thanh toán là 56.153.021 đồng sang nợ quá hạn theo mức lãi suất 3.6%/tháng (2.4 x150%) được tính trên số nợ gốc tương ứng với thời gian vi phạm nghĩa vụ tính đến ngày 23/6/2023 là 32.007.400 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4]. Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Trong vụ án này, Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu ông Q có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu ai cùng với ông Q thực hiện nghĩa vụ dân sự nêu trên. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Q đã sử dụng số tiền vay để phục vụ nhu cầu cá nhân nên không buộc ai phải cùng có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của ông Q.

[5]. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Ngô Đăng Q thanh toán số tiền của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng tính đến 23/6/2023 là 88.160.421 đồng (bao gồm nợ gốc là 56.153.021 đồng và nợ lãi là 32.007.400 đồng) và ông Q có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết kể từ ngày 24/6/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Bị đơn ông Ngô Đăng Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.408.021 đồng. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

[7]. Quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc bị đơn ông Ngô Đăng Q phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền còn nợ phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/7/2019 giữa ông Ngô Đăng Q và Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tính đến ngày 23/6/2023 là 88.160.421 (T mưới tám triệu một trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi mốt) đồng, trong đó nợ gốc là 56.153.021 đồng và nợ lãi là 32.007.400 đồng. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 24 tháng 6 năm 2023 cho đến khi thi hành án xong, ông Ngô Đăng Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết ngày 09/7/2019.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Ông Ngô Đăng Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.408.021 (Bốn triệu bốn trăm linh tám nghìn không trăm hai mươi mốt) đồng.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.858.668 (Một triệu tám trăm năm mươi tám nghìn sáu trăm sáu mươi tám) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0018335 ngày 08/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Ngô Đăng Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ