- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN THANH H + DP TỘI ĐÁNH BẠC - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Thành H và bị cáo Trần Văn V phạm Tội đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 185/2022/HS-ST Ngày 22-6-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 162/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 177/2022/QĐXXST-HS ngày 09/6/2022 đối với các bị cáo:
1. Trần Thành H, sinh năm 1983 tại tỉnh Vĩnh Long; thƣờng trú: Ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: 60/32/14, đƣờng N, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn X (không rõ năm sinh) và bà Trần Thị Tuyết M (không rõ năm sinh); bị cáo có vợ tên Trần Thanh T, sinh năm 1984; có 02 con, lớn sinh năm 2014 và nhỏ sinh năm 2019; bị cáo có 02 em, không rõ năm sinh; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 10/10/2017, Công an phƣờng A, thị xã D (nay là thành phố D) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 742/QĐ-XPHC về hành vi Đánh bạc trái phép, ngày 11/10/2022 bị cáo đã đóng tiền phạt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2021 đến ngày 06/01/2022 đƣợc thay thế biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Văn V, sinh năm 1974 tại tỉnh Bạc Liêu; thƣờng trú: Ấp B, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. tạm trú: Số 29 đƣờng số 9, khu phố 4, phƣờng B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn B (đã chết) và bà Trần Thị Q, sinh năm 1932; có vợ tên Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1974; bị cáo có 02 ngƣời con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1998; bị cáo có 09 chị em ruột, lớn sinh năm 1953, nhỏ sinh năm 1977; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 07 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo về tội Đánh bạc theo Bản án số 26/2013/HSST, đã chấp hành xong Bản án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2021 đến ngày 06/01/2022 đƣợc thay thế biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Đoàn Văn K, sinh năm 1987;
2. Nguyễn Văn S, sinh năm 1974;
3. Lại Văn N, sinh năm 1987;
4. Lê Văn T, sinh năm 1982;
5. Nguyễn H, sinh năm 1988;
Ngƣời làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Ngày 27/12/2021, bị cáo Trần Văn V và bị cáo Trần Thành H có hành vi mua bán số đề đài xổ số Thành phố Hồ Chí Minh các số: 54.96 đá 10.000 đồng, 54 bao lô 10.000 đồng, 96 bao lô 10.000 đồng; tổng cộng tiền mua số đề là 720.000 đồng. Theo kết quả xổ số, bị cáo Trần Văn V trúng đƣợc 9.300.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo H và bị cáo V sử dụng để đánh bạc vào ngày 27/12/2021 là 10.020.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo Trần Thành H còn có hành vi mua bán số đề với các đối tƣợng khác, cụ thể:
- Đoàn Văn K các số: 35, 49 đá 10.000 đồng đài xổ số miền Bắc, tổng số tiền mua số đề là 540.000 đồng, tiền thực tế phải trả là 540.000 đồng. Theo kết quả xổ số K không trúng, số tiền sử dụng đánh bạc của K là 540.000 đồng.
- Nguyễn Văn S các số: 54,87,96 đá 10.000 đồng đài xổ số miền Bắc, tổng số tiền mua số đề là 1.620.000 đồng, tiền thực tế phải trả là 1.500.000 đồng. Theo kết quả xổ số Sỹ không trúng, số tiền sử dụng đánh bạc của S là 1.620.000 đồng.
- Lại Văn N các số: 45 bao lô 50.000 đồng đài xổ số miền Bắc, tổng số tiền mua số đề là 1.350.000 đồng. Theo kết quả xổ số N không trúng, số tiền sử dụng đánh bạc của N là 1.350.000 đồng.
- Lê Văn T các số: 47,70 đá 10.000 đồng, số 947 bao lô 10.000 đồng đài xổ số Thành phố Hồ Chí Minh; số 47,70 đá 10.000 đồng đài xổ số tỉnh Đồng Tháp, tổng số tiền mua số đề là 1.090.000 đồng, tiền thực tế phải trả là 900.000 đồng. Theo kết quả xổ số T không trúng, tổng số tiền đánh bạc của T là 1.090.000 đồng.
- Nguyễn H các số 84,62,35 đá 4.000 đồng, bao lô 10.000 đồng đài xổ số miền Bắc, tổng số tiền mua số đề là 1.458.000 đồng, số tiền thực tế phải trả là 1.410.000 đồng. Theo kết quả xổ số H không trúng, tổng số tiền đánh bạc của H là 1.450.000 đồng.
- T (chƣa rõ lai lịch) các số 24,57,69 đá 1.000 đồng đài xổ số Miền Bắc, tổng tiền mua số đề là 162.000 đồng. Theo kết quả xổ số, T không trúng, tổng số tiền đánh bạc của T là 150.000 đồng.
Ngày 27 tháng 12 năm 2021, Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố Dĩ An phối hợp Công an phƣờng An Bình kiểm tra hành chính tại quán cà phê không tên trên đƣờng số 2, khu phố Bình Đƣờng 1, phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An bị cáo Trần Thành H đã đầu thú về hành vi mua bán số đề thắng thua bằng tiền với bị cáo Trần Văn V và các con bạc khác, bằng hình thức sử dụng sim số 0966.040.549 gắn trong điện thoại Nokia 105 và sim số 0909.876.227 gắn trong điện thoại Nokia màu đen. Việc thanh toán tiền thắng thua thực hiện thông qua số tài khoản: 933670331 tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần quốc tế Việt Nam (VIB) tên chủ tài khoản là Nguyễn Hoàng M và số tài khỏan: 1023291323 tại ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Vietcombank. Ngày 28/12/2021 bị cáo Trần Văn V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đầu thú và khai nhận có hành vi mua bán số đề với Trần Thành H.
Vật chứng thu giữ: 01 Điện thoại Nokia 105 màu đen gắn số sim 0966.040.549 và 01 Điện thoại Nokia 105 màu đen gắn số sim 0909.876.227.
Tại Cáo trạng số 189/CT-VKS-DA ngày 25 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Thành H và bị cáo Trần Văn V về Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh H mức án từ 08 đến 12 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo thời gian thử thách từ 16 đến 24 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn V mức án từ 08 đến 10 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tƣ pháp đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc 02 Điện thoại Nokia 105 màu đen của bị cáo Trần Thành H;
Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0966.040.549 và 01 sim số 0909.876.227 của bị cáo Trần Thành H;
Buộc bị cáo Trần Thành H và Trần Văn V nộp lại số tiền 10.020.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc.
Buộc bị cáo Trần Thành H nộp lại số tiền 6.220.00 đồng tiền nhận bán số đề cho các đối tƣợng Đoàn Văn K, Nguyễn Văn S, Lại Văn N, Lê Văn T, Nguyễn Hƣơng V và T vào ngày 27/12/2021.
Đối với tên T, C (chƣa rõ nhân thân lai lịch) nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Đối với đối tƣợng tên Nguyễn Hoàng M hiện Cơ quan cảnh điều tra Công an thành phố Dĩ An đã ra quyết định truy tìm, tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với các đối tƣợng Đoàn Văn K, Nguyễn Văn S, Lại Văn N, Lê Văn T và Nguyễn H chƣa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc. Số tiền sử dụng để đánh bạc vào ngày 27/12/2021 chƣa đủ để xử lý hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định xử phạt hành chính mỗi đối tƣợng số tiền 350.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận, không đối đáp, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 27 tháng 12 năm 2021, tại quán cà phê không tên trên đƣờng số 2, khu phố Bình Đƣờng 1, phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An bị cáo Trần Thành H tham gia đánh bạc dƣới hình thức mua bán số đề với bị cáo Trần Văn V. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 10.020.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng số: 189/CT-VKS-DA ngày 25 tháng 5 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo là ngƣời đã thành niên đủ khả năng nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, bị Nhà nƣớc nghiêm cấm nhƣng vì tham lam tự lợi các bị cáo đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo đầu thú; bị cáo Trần Thành H phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Trần Thành H đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; bị cáo Trần Văn V đã bị Tòa án xét xử về hành vi đánh bạc. Các bị cáo là ngƣời có nghề nghiệp.
Vụ án có tính chất đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò cụ thể, không có sự câu kết chặt chẽ nên không xem là phạm tội có tổ chức. Các bị cáo tham gia với vai trò là ngƣời thực hành.
Xét bị cáo Trần Thành H và bị cáo Trần Văn V phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cƣ trú rõ ràng, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải. Trong quá trình tại ngoại từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn xét xử bị cáo chấp hành tốt nghĩa vụ của ngƣời đƣợc tại ngoại. Xét thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hƣởng án treo giao bị cáo về cho chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ sức răn đe bị cáo, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tƣ pháp:
Xét 02 Điện thoại Nokia 105 màu đen của bị cáo Trần Thành H sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
Xét 01 sim số 0966.040.549 và 01 sim số 0909.876.227 của bị cáo Trần Thanh H không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Xét số tiền 10.020.000 đồng bị cáo Trần Thành H và bị cáo Trần Văn V sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
Xét số tiền 6.220.00 đồng bị cáo Trần Thành H nhận bán số đề cho các đối tƣợng Đoàn Văn K, Nguyễn Văn S, Lại Văn N, Lê Văn T, Nguyễn Hƣơng V và T vào ngày 27/12/2021 cần buộc bị cáo nộp lại để nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
Đối với tên T, C (chƣa rõ nhân thân lai lịch) nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với đối tƣợng tên Nguyễn Hoàng M hiện Cơ quan cảnh điều tra Công an thành phố Dĩ An đã ra quyết định truy tìm, tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với các đối tƣợng Đoàn Văn K, Nguyễn Văn S, Lại Văn N, Lê Văn T và Nguyễn H chƣa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc. Số tiền sử dụng để đánh bạc vào ngày 27/12/2021 chƣa đủ để xử lý hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên đƣợc chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Thành H và bị cáo Trần Văn V phạm Tội đánh bạc.
1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử phạt bị cáo Trần Thành H 08 (Tám) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo thời gian thử thách 16 (Mƣời sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật Thi Hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hƣởng án treo.
1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử phạt bị cáo Trần Văn V 08 (Tám) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo thời gian thử thách 16 (Mƣời sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phƣờng Bình Chiểu, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật Thi Hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc 02 Điện thoại Nokia 105 màu đen của bị cáo Trần Thành H.
Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0966.040.549 và 01 sim số 0909.876.227 của bị cáo Trần Thanh H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2021 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).
Buộc bị cáo Trần Thanh H và bị cáo Trần Văn V nộp lại số tiền 10.020.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
Buộc bị cáo Trần Thành H nộp lại số tiền 6.220.00 đồng để nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Trần Thành H và bị cáo Trần Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; -VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Quyết |