- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 185/2022/HS-PT Ngày: 18 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Cẩm
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Văn Phú
Ông Võ Minh Diệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đ1 diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 122/2022/HS-PT ngày 17 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2022/HS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Lương Quốc T1 (tên gọi khác: Beo); sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn Viêm Tây 2, xã Điện Thắng Bắc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới T4h: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Lương T2 và bà Nguyễn Thị Luyến; vợ Ngô Thị Diễm My và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2021); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/9/2021, chuyển tạm giam từ ngày 29/9/2021; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T1 liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 20/9/2021, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại phòng trọ của Nguyễn Tấn L có một số đối tượng tụ tập nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, Công an phường N phối hợp với Tiểu đội CSCĐ Khu Công nghiệp thuộc Phòng PK02 Công an tỉnh Quảng Nam tiến hành kiểm tra phát hiện tại phòng trọ của L có các đối tượng: Nguyễn Hữu Đ1, Huỳnh Phước T3, Nguyễn Công T4, Đặng Công H1, Nguyễn Đ2, Nguyễn Lương Quốc T1 và Nguyễn Tấn L đang ở phía trước phòng. Qua kiểm tra, phát hiện tại vị trí góc tường trên nền nhà dưới bếp có 01 túi ni lông trong suốt, kích thước (4x7) cm, trên miệng túi có viền màu đỏ, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá ở góc dưới kệ bếp; tại nền nhà dưới gần cửa nhà vệ sinh có 01 túi ni lông trong suốt, kích thước (4x7) cm, trên miệng túi có viền màu đỏ, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Mở rộng phạm vi kiểm tra ra bên ngoài phát hiện phía sau phòng trọ của Nguyễn Tấn L tại vị trí sát tường nhà vệ sinh có 03 túi ni lông trong suốt, kích thước mỗi túi là (4x7) cm, trên miệng mỗi túi đều có viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng.
Qua làm việc, Đ1 khai nhận: Vào sáng ngày 20/9/2021, đối tượng Beo Nho có đến phòng trọ của Nguyễn Tấn L để lại một số gói ma túy rồi bỏ đi đâu không rõ, một lúc sau Beo Nho gọi điện cho Đ1 nói Đ1 lấy một gói ma túy đưa cho T1 đem lên cho Beo Nho trên Vĩnh Điện. Đ1 lấy một gói ma túy đưa cho T1 rồi T1 đem đi được một đoạn thì quay về đưa gói ma túy trên lại cho Đ1 nói Beo Nho không cần nữa. T1 khai nhận: Đ1 có đưa cho T1 một gói ma túy và nói T1 đem lên Vĩnh Điện cho Beo nho, khi đi ra cổng thấy ma túy nhiều sợ bị Công an bắt nên T1 đem vào trả lại gói ma túy trên cho Đ1. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ1 và T1 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/9/2021, Đ1 đang ở phòng trọ của mình thuộc khối phố V, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam thì có Phùng H2 (tên thường gọi là Beo Nho) đến rủ Đ1 qua phòng trọ của L (cùng dãy trọ) chơi game. Tại phòng L, Đ1 thấy Phùng H2 có lấy ra một số gói ma túy đá có kích thước khác nhau ở dưới ghế nhựa trong phòng. Lúc sau, có T1 đến dãy trọ nên Đ1 gọi T1 qua phòng L ngồi chơi nói chuyện, L ở phòng kế bên đi về ngồi trên võng trước sân phòng mình. Ngồi chơi được một lúc thì Phùng H2 đứng lên đi về. Sau đó có T3, H1, T4 và Đ2 cũng đến phòng L ngồi chơi game. Trong lúc Đ1 đang ngồi chơi game thì Phùng H2 điện thoại cho Đ1 nói nhờ T1 đem cho Phùng H2 một gói ma túy đá lên Vĩnh Điện. Đ1 nghe vậy liền lấy gói ở trên cùng to nhất rồi đưa cho T1. Khi đi được một đoạn, T1 thấy bên trong túi ni lông có chứa nhiều ma túy và sợ bị Công an bắt nên T1 quay vào trả lại ma túy cho Đ1. Thấy vậy Đ1 cầm gói ma túy cất giấu xuống lại dưới ghế rồi tiếp tục ngồi chơi game. Một lúc sau nghe L lượng Công an vào kiểm tra, Đ1 nhìn thấy gói ma túy mà Đ1 đưa T1 lúc nãy ở dưới ghế nên dùng chân đá xuống dưới khu vực bếp nhưng đã bị Tổ công tác phát hiện.
Căn cứ Bản kết luận giám định số 1143/C09C-Đ2 ngày 23/9/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại Đà Nẵng kết luận: Chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong các phong bì niêm phong ký hiệu mẫu 01, mẫu 02 và mẫu 03 gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu lần lượt là:
- Khối lượng mẫu 01 (thu tại khu vực bếp) là: 8,63 gam.
- Khối lượng mẫu 02 (thu tại trước cửa nhà vệ sinh) là: 0,36 gam.
- Khối lượng mẫu 03 (thu tại khu vực sau nhà vệ sinh) là: 13,81 gam.
Methamphetamine là chất ma túy STT 323, Danh mục IIC ban hành kèm Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Với nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2022/HS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Toà án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 05 (Năm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 20/9/2021).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo khác, phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Vào ngày 16/5/2022, bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đ1 diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và nhân thân để làm căn cứ xử phạt bị cáo T1 mức án 05 (Năm) năm tù là có cơ sở, tương xứng với T4h chất, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T1 liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 khai nhận: Vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 20/9/2021, tại phòng trọ của Nguyễn Tấn L (thuộc khối phố V, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam), Nguyễn Hữu Đ1 và Nguyễn Lương Quốc T1 đã có hành vi tàng trữ 8,63 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định khoa học hình sự và các T1 liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 cùng với bị cáo Nguyễn Hữu Đ1 đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 8,63 gam, với mục đích để sử dụng nên Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2022/HS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét nhân thân và vai trò của từng bị cáo để làm căn cứ xử phạt bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 05 năm tù là có cơ sở. Xét thấy hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống đối với loại tội phạm này hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
[5] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu L pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 05 (Năm) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 20/9/2021).
2. Bị cáo Nguyễn Lương Quốc T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu L pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu L pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18/8/2022). Nơi nhâ ̣n:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Các cơ quan tiến hành TT;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người tham gia TT;
- Phòng PV06 CA Q.Nam;
- P.HSNV Sở tư pháp Q. Nam;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Tòa hình sự.
Trần Thế Cẩm
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán
Thẩm phán – Chủ tọa
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thế Cẩm Nơi nhâ ̣n:
| - Các cơ quan tiến hành TT; - Người tham gia TT; - Phòng PV06 CA Q.Nam; - P.HSNV Sở tư pháp Q. Nam; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thế Cẩm |