vanban.org

Bản án 185/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 22/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt Phạm Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn H về UBND phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Luật giao thông đường bộ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------
Bản án số:185/2021/HSST
Ngày: 22/07/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN- TP HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thắng và ông Nguyễn Văn Khanh

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Lệ Quyên- Cán bộ Toà án nhân dân quận Long Biên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Huê - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 07 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 166/2021/HSST ngày 10/06/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2021/QĐXXST- HS ngày 25/06/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2021/HSST- QĐ ngày 13/07/2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn H, sinh năm 1976; ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ X phường T, quận L, thành phố Hà Nội, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông: Phạm Văn M1; Con bà: Lê Thị S, vợ: Nguyễn Thị X, có 02 con: Lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2007

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà)

2. Họ và tên: Phạm Ngọc M, sinh năm 1977; ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ X phường T, quận L, thành phố Hà Nội, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông: Phạm Thanh B; Con bà: Trần Thị T, vợ: Lê Thị X, có 02 con: Lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2010

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà)

* Bị hại: Anh Đào Phong C, sinh năm 1997 (Đã chết)

Người đại diện hợp pháp: Bà Dương Thị B, sinh năm 1976 (mẹ đẻ)

Địa chỉ: Thôn X xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội

(Bà B vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 ngày 21/9/2020, Phạm Ngọc M điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai i10 màu bạc BKS: 30E-921.22 đi sang nhà anh Đỗ Quốc Triệu để uống nước nói chuyện. Được một lúc thì Phạm Văn H đi tập thể dục qua thấy xe của anh M đỗ trước cửa nhà anh Triệu, H vào trong nhà và nói với M đang học bằng lái xe và muốn mượn xe của M để đi tập, do quen biết với nhau nên M biết H chưa có giấy phép lái xe nhưng vẫn đồng ý để H mượn xe, sau đó cả H, M, Triệu đi ra ngoài chỗ để xe, H ngồi vào vị trí lái xe, M ngồi ở vị trí ghế phụ phía trước còn Triệu ngồi ở ghế phía sau. H điều khiển xe đi quanh khu đô thị Garden City phường Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội. Khoảng 20 giờ 20’ H điều khiển xe ra đường Cổ Linh theo chiều Cầu Thanh Trì hướng Thạch Bàn, đường Cổ Linh kéo dài là đường đôi ở giữa có giải phân cách cứng chia đôi làm hai chiều xe chạy, một chiều đi hướng Thạch Bàn, một chiều đi hướng Cự Khối, mặt đường được trải một lớp bê tông nhựa thẳng phẳng rộng 11m, đường Ngọc trì là đường hai chiều ở giữa có vạch sơn nét đôi màu trắng chia làm hai chiều xe chạy, mặt đường được trải một lớp bê tông nhựa thẳng phẳng rộng 09m. Điều kiện thời tiết trời tối có ánh sáng đèn đường cao áp, trời không mưa, mặt đường khô ráo người và các phương tiện tham gia giao thông vắng. Khi H điều khiển xe đến khu vực ngã 3 đường Cổ Linh giao với phố Ngọc Trì, H có ý định rẽ phải đi vào đường Ngọc Trì, H điều khiển xe với tốc độ khoảng 10-15km/giờ, H chuyển hướng rẽ phải có bật xi nhan phải, H quan sát đường lúc này vắng các phương tiện, H liếc gương bên phải thấy không có phương tiện nào, H đánh lái sang phải thì mặt ngoài bên phải chắn đà trước của xe ô tô va chạm với mặt ngoài cần gạt chân chống đứng bên trái xe mô tô BKS: 29N1-582.36 do anh Đào Phong C sinh năm: 1997, trú tại: Thôn X, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội điều khiển chở theo phía sau là anh Đinh Mạnh Hoàng An sinh năm: 1997, trú tại: Tổ dân phố Nông Lâm, TT Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội (Anh C có giấy phép lái xe hợp lệ và đội mũ bảo hiểm) điều khiển bên phải, cùng chiều, dấu vết va chạm của xe mô tô có chiều từ sau về trước. Xe mô tô của anh Đào Phong C đổ nghiêng phải trên mặt đường Cổ Linh, anh An ngã theo xe, anh C ngã văng ra đường lọt vào gầm của đầu xe ô tô. H đạp phanh đánh lái sang trái được khoảng 3m xe dừng lại H xuống xe thấy anh C nằm ở giữa gầm đầu xe, anh An đã đứng lên đi lại bình thường, mọi người tập trung nâng xe để đưa anh C ra và đưa anh C đi cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa Đức Giang. H đã đến cơ quan Công an quận Long Biên, Hà Nội trình báo vụ việc tai nạn. Hiện trường được giữ nguyên vẹn, cơ quan CSĐT- Công an Quận Long Biên đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ các phương tiện liên quan đưa về trụ sở Công an để giải quyết.

Thiệt hại: Anh Đào Phong C bị thương cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa Đức Giang do thương tích nặng gia đình xin về đến hồi 01 giờ 30 ngày 22/9/2020 anh C đã tử vong tại nhà riêng.

- Anh An bị xây xát nhẹ, anh An có đơn từ chối đi giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe do vụ tai nạn giao thông trên gây ra và không có yêu cầu đề nghị gì.

- Xe mô tô BKS: 29N1-582.36 và xe ô tô BKS: 30E-921.22 bị xước nhẹ.

Sau khi nạn nhân Đào Phong C tử vong gia đình nan nhân đã cương quyết từ chối pháp y. Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 890/GĐTT-TTPY ngày 29/9/2020; Khám ngoài.

+ Sây sát da trán trái kích thước 3cm x 2cm.

+ Sây sát da mí trên mắt trái kích thước 5cm x 1cm.

+ Sây sát da vùng mũi và nhân trung kính thước 5cm x 4cm.

+ Sây sát da má trái sát đuôi mắt trái kính thước 3cm x 2,5cm.

+ Hai lỗ tai, hai lỗ mũi khô.

+ Cung răng chắc, không gãy răng.

+ Sờ nắn không vỡ xương.

+ Cổ vững.

+ Vùng Ngực - Bụng:

+ Mặt trước vai trái ngang thân xương đòn có vết bầm tím da kích thước 12cm x 11cm.

+ Bầm tím da vai phải kích thước 2cm x 1cm.

+ Vùng bụng của nạn nhân có vết mổ còn chỉ khâu kích thước 31cm x 5cm (dạng dấu vết cấp cứu).

+ Vùng bụng phải có vết sây sát da kích thước 24cm x 13cm. Trên vết sây sát da này có 03 vết rách da còn chỉ khâu kích thước 3cm x 0,2cm; 3cm x 0,2cm; 2,5cm x 0,2cm (dấu vết đặt dẫn lưu).

Tay phải: Bầm tím da mặt trước trong hõm nách tới mặt trước khuỷu tay kích thước 26cm x 9cm. Sây sát da mặt sau cánh và cẳng tay kích thước 62cm x 9cm. Sờ nắn không thấy gãy xương.

+ Khung chậu vững, bộ phận sinh dục ngoài bình thường.

+ Bầm tím da nếp bẹn phải kích thước 23cm x 9cm.

+ Bầm tím da nếp bẹn trái kích thước 3cm x 1,5cm.

+ Chân phải: Sây sát da mặt trước ngoài đùi kích thước 12cm x 8cm. Sây sát da mặt trước gối kích thước 13cm x 9cm. Sờ nắn không thấy gãy xương.

+ Chân trái: Sây sát da mặt trước ngoài đùi kích thước 22cm x 13cm. Sây sát da mặt ngoài cẳng chân kích thước 22cm x 16cm. Sờ nắn không thấy gãy xương.

+ Sây sát da lưng trái kích thước 22cm x 6cm.

+ Ngoài các dấu vết đã mô tả không phát hiện thương tích nào khác.

Nguyên nhân chết: Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết.

Bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 460/HP.2020 ngày 27/10/2020 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận: Mẫu máu của anh Đào Phong C giám định không phát hiện thấy Ethanol. Mẫu máu của anh Đào Phong C giám định: Âm tính với Morphine, Codein, Cocain, Amphetamine, Methamphetamine, Ketamine, MDA, MDMA, MDEA.

Tại bản kết luận giám định dấu vết số 7202/C09-P3 ngày 06/11/2020 của Viện khoa học hình sự kết luận: Dấu vết trượt xước, mất sơn màu xám ở mặt ngoài bên phải chắn đà trước xe ô tô biển số 30E-921.22 có chiều từ trước về sau, từ trái qua phải, phù hợp với dấu vết trượt bám dính chất xám (dạng sơn) ở mặt ngoài cần gạt chân chống đứng bên trái xe mô tô biển số 29N1-582.36. Dấu vết va chạm ở xe máy tại vị trí này có chiều từ sau về trước.

Tại Bản kết luận giám định số 1144/C09-P2 ngày 03/3/2021 của Viện khoa học kỹ thuật hình sự Bộ Công An kết luận về an toàn kỹ thuật phương tiện như sau: Xe ô tô BKS: 30E-921.22. Hệ thống phanh, hệ thống lái của xe ô tô đảm bảo an toàn kỹ thuật, hệ thống đèn tín hiệu và còi xe vẫn còn hoạt động.

Quá trình điều tra, Phạm Văn H khai nhận khi điều khiển xe ô tô vào ngã ba đường Cổ Linh giao với phố Ngọc Trì, Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội do thiếu chú ý quan sát chuyển hướng rẽ phải không an toàn, dẫn đến mặt ngoài bên phải chắn đà trước của xe ô tô va chạm với mặt ngoài cần gạt chân chống đứng bên trái xe mô tô làm xe mô tô đổ, người ngã xuống đường, hậu quả đầu xe ô tô đè vào người anh C bị thương nặng gây tử vong.

Kết quả xét nghiệm: Phạm Văn H âm tính với chất ma túy và không có nồng độ cồn trong hơi thở.

Quá trình điều tra Phạm Ngọc M khai nhận: Phạm Ngọc M và Phạm Văn H là bạn thân của nhau nên M biết H đang chuẩn bị thi bằng lái xe ô tô nên khi H đặt vấn đề mượn xe của M để đi vì là bạn nên M nể H và biết Phạm Văn H không có bằng lái xe ô tô nhưng vẫn giao xe ô tô HUYNDAI mang BKS: 30E-921.22 của M cho H điều khiển dẫn đến tai nạn giao thông hậu quả làm 01 người bị chết.

Đối với 01 xe ô tô HUYNDAI mang BKS: 30E-921.22; 01 giấy chứng nhận thế chấp ngân hàng; 01 Giấy chứng nhận kiểm định; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của chiếc xe ô tô mang BKS: 30E-921.22, cơ quan CSĐT – Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu là anh Phạm Ngọc M là có căn cứ.

Đối với 01 xe mô tô mang BKS: 29N1-582.36, 01 đăng ký xe mô tô BKS: 29N1-582.36, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Đào Phong C cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho đại diện gia đình nạn nhân C là bà Dương Thị B (mẹ của nạn nhân Đào Phong C).

Đối với 01 chứng M nhân dân mang tên Phạm Văn H, chuyển đến chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên, Hà Nội để Tòa án xem xét xử lý.

Về dân sự: Phạm Văn H người điều khiển chiếc xe ô tô BKS: 30E-921.22 để xảy ra vụ tai nạn đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Đào Phong C số tiền là 200.000.000 đồng. Sau khi nhận số tiền nêu trên đại diện gia đình anh C không có yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho Phạm Văn H.

Đối với xe ô tô HUYNDAI mang BKS: 30E-921.22 và xe mô tô BKS: 29N1-582.36 do bị xây sát nhẹ nên cả hai bên không yêu cầu định giá thiệt hại của hai phương tiện này và không yêu cầu đề nghị gì.

Tại bản cáo trạng số 170/CT- VKSLB ngày 03/06/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo Phạm Văn H về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Phạm Ngọc M về hành vi “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự

Tại phiên toà:

- Bị cáo Phạm Văn H và Phạm Ngọc M thành khẩn khai nhận tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng và không kêu oan, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo ngoài xã hội vì các bị cáo có hoàn C gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đang phải phụng dưỡng bố mẹ già yếu.

- Đại diện bị hại là bà Dương Thị B trình bày: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo H đã đến động viên, thăm hỏi và đã bồi thường thỏa đáng. Về phần thiệt hại đối với chiếc xe máy, bà B không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Nay bà không có yêu cầu gì thêm về dân sự và có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo H

Bà B có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà B theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân quận Long Biên duy trì công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đề nghị như sau:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt Phạm Văn H mức án 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 60 tháng.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt Phạm Ngọc M mức án từ 13 th¸ng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu giải quyết do đó không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 CMND mang tên Phạm Văn H

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT- Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với sơ đồ hiện trường, dấu vết va chạm, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh giám định, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên.

Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Do đang chuẩn bị thi lấy bằng lái xe nên khoảng 19 giờ 30’ ngày 21/09/2020 bị cáo Phạm Văn H mượn xe ô tô HUYNDAI mang BKS: 30E-921.22 của Phạm Ngọc M để tập lái. Sau khi mượn được xe ô tô, bị cáo H ngồi vị trí lái, bị cáo M ngồi vị trí ghế phụ phía trước. Bị cáo H điều khiển xe đi quanh khu đô thị Garden City phường Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội. Đến khoảng 20 giờ 20’, bị cáo H điều khiển xe ra đường Cổ Linh theo chiều Cầu Thanh Trì hướng Thạch Bàn. Khi đến khu vực ngã 3 đường Cổ Linh giao với phố Ngọc Trì, bị cáo H bật xi nhan phải để rẽ vào đường Ngọc Trì và điều khiển xe với tốc độ khoảng 10 -15km/giờ. Do thiếu quan sát chuyển hướng không an toàn nên mặt ngoài bên phải chắn đà trước của xe ô tô va chạm với mặt ngoài cần gạt chân chống đứng bên trái xe mô tô BKS: 29N1-582.36 do anh Đào Phong C điều khiển chở theo phía sau là anh Đinh Mạnh Hoàng An. Anh C ngã văng ra đường lọt vào gầm xe ô tô, bị cáo H đang điều khiển đầu xe đè vào người anh C. Bị cáo H cùng người khác đưa anh C đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, sau đó đã tử vong tại nhà. Hành vi của bị cáo H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo M, biết rõ bị cáo H chưa có giấy phép lái xe nhưng vẫn giao xe ô tô và hướng dẫn bị cáo H điều khiển dẫn đến tai nạn giao thông, hậu quả làm anh C tử vong. Hành vi của bị cáo M đã phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đưa ra các chứng cứ buộc tội, truy tố bị cáo Phạm Văn H với tội danh “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Phạm Ngọc M với tội danh “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản cho người và phương tiện tham gia giao thông khác do đó cần phải áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục, cải tạo, răn đe và đấu tranh phòng ngừa chung

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo H đầu thú và đã tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo H, bị cáo H có bố là ông Phạm Văn Mẹo và bà Lê Thị Sáu là người có công với cách mạng, tham gia kháng chiến chống Mỹ được Nhà nước tặng huân, huy chương kháng chiến hạng nhì và hạng ba do đó bị cáo H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo M phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do đó bị cáo M tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xét bị cáo Phạm Văn H và bị cáo Phạm Ngọc M có địa chỉ rõ ràng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên bị đưa ra xét xử, bị cáo H là lao động chính trong gia đình, hiện đang phụng dưỡng bố mẹ già yếu và nuôi con nhỏ nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phù hợp với quy định tại Điều 36, Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 15/05/2018 thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, là lao động chính trong gia đình, hiện đang phải phụng dưỡng bố mẹ già yếu nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo H và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo M.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với phần thiệt hại xe ô tô HUYNDAI, BKS: 30E-921.22 mang tên Phạm Ngọc M và chiếc xe mô tô BKS: 29N1-582.36 mang tên Đào Phong C, các bên không đề nghị giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Dương Thị B đại diện hợp pháp của bị hại xác nhận đã nhận đủ số tiền bị cáo bồi thường, không có yêu cầu gì thêm về dân sự do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Phạm Văn H 01 chứng M nhân dân mang tên Phạm Văn H

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H và bị cáo Phạm Ngọc M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo H, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo M, không áp dụng hình phạt bổ sung, về trách nhiệm dân sự và đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ- HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 15/05/2018

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt Phạm Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn H về UBND phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc M phạm tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”

“Xử phạt Phạm Ngọc M 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và Bản sao bản án.

Giao bị cáo Phạm Ngọc M cho Uỷ ban nhân dân phường Thạch Bàn, quận Long Biên, TP. Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo H, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo M.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Áp dụng Luật giao thông đường bộ.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự đã tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo H 01 Chứng M nhân dân mang tên Phạm Văn H theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT- Công an quận Long Biên và Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên ngày 08/06/2021

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H và Phạm Ngọc M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đại diện hợp pháp của bị hại là bà Dương Thị B vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ