- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thị Hải Y - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị Hải Y phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 185/2018/HS-ST Ngày: 01- 8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thúy Hoa
Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Nguyễn Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 182/2018/TLST - HS, ngày 05 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Thị Hải Y - Sinh ngày 17 tháng 8 năm 1992, tại Tỉnh Bắc Ninh
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố M, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Thành C và bà: Nguyễn Thị L; Bị cáo có chồng là Vũ Trần Anh T (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23 tháng 3 năm 2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện chất ma túy nên vào tối ngày 22/3/2018 Dương Thị Hải Y gọi điện thoại di động cho một người nam giới tên Đ (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua ma túy số lượng 04 bịch khay và 05 viên thuốc lắc để sử dụng. Đ đồng ý và hẹn Y đến khu vực gần khách sạn M đường T, thành phố B để giao dịch mua, bán. Tại đây, Đ đưa cho Y 04 bịch khay và 05 viên thuốc lắc. Y cất giấu số ma túy trên vào trong túi quần phía trước bên phải của mình rồi thuê taxi đi tìm nơi sử dụng. Khi Y đi đến trước số nhà B, đường T, phường T, thành phố B thì bị lực lượng Công an thành phố Buôn Ma Thuột, phát hiện bắt quả tang thu giữ trong túi quần phía trước của Y đang mặc 01 gói nylon bên trong có 04 gói nylon chứa chất bột màu trắng và 05 viên nén màu xanh hình tròn được niêm phong theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 332/GĐMT-PC54 ngày 27/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận:
- Chất bột màu trắng đựng trong 04 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 1,5025gam, loại: Ketamine;
- 05 viên hình tròn màu xanh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,6994gam, loại: MDMA.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đúng như nội dung trên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định và không có ý kiến gì.
Bản cáo trạng số: 190/CT-VKS ngày 03/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk đã truy tố bị cáo Dương Thị Hải Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo Dương Thị Hải Y và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng số 190/CT-VKS ngày 03/7/2018 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Thị Hải Y từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy 1,4229gam ma túy loại Ketamine và 1,4303gam MDMA còn lại sau giám định; tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1s gắn sim số 0935946366 mà bị cáo Y sử dụng vào việc phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với với các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, vào lúc 23h30’ ngày 22/3/2018 tại trước số nhà B, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Dương Thị Hải Y có hành vi tàng trữ trái phép 1,5025gam ma túy loại Ketamin và 1,6994gam ma túy loại MDMA để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, phát hiện bắt quả tang là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a,……;
b,……;
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nguy hiểm và gây tác hại xấu nhiều mặt cho xã hội và ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rằng các loại dược chất ma túy thuộc quyền quản lý của Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng có thẩm quyền và phải tuân theo những trình tự thủ tục nghiêm ngặt, mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Đồng thời bị cáo cũng biết được rằng chất ma túy là loại chất gây nghiện nặng làm hủy hoại đến sức khỏe của con người và cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội. Chỉ vì thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cho nên đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, nhằm phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này trong tình hình xã hội hiện nay.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng nào tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tình tiết giảm nhẹ, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đối với nguồn ma tuý bị cáo Y tàng trữ, bị cáo Y khai nhận mua của đối tượng nam giới tên Đ (không rõ nhân thân lại lịch). Do chưa xác minh được về nhân thân, lai lịch của đối tượng Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tách hành vi của đối tượng Đ ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1s gắn sim số 0935946366, bị caó Y sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 1,4229gam ma túy loại Ketamin và 1,4303gam ma túy loại MDMA còn lại sau giám định là tang vật của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
Xét quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên đã thi hành các quyết định tố tụng, tiến hành truy tìm, thu thập vật chứng, khám nghiệm hiện trường cũng như lấy lời khai của bị cáo và các đương sự khác liên quan trong vụ án là đảm bảo đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử kiểm sát viên đã thực hiện việc kiểm sát hoạt động tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nên bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị Hải Y phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Xử phạt: Bị cáo Dương Thị Hải Y 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 23 tháng 3 năm 2018.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a , b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy 1,4229 gam ma túy loại Ketamine và 1,4303 gam MDMA còn lại sau giám định được niêm phong số 332/GĐMT-PC54 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1s, màu hồng, gắn sim số 0935946366 của bị cáo Dương Thị Hải Y.
(Vật chứng có đặc điểm, số lượng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 7 năm 2018 giữa Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn ma thuột).
Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Dương Thị Hải Y phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND tỉnh,VKSND TP.BMT; - Công an TP.BMT; - CCTHADS TP.B; - THA phạt tù (để thi hành); - Sở tư pháp tỉnh ĐăkLăk; - Bị cáo; Các đương sự - Lưu: HS, VP . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị My My |