vanban.org

Bản án 185/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 29/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 1 điều 119; khoản 1 điều 120; điểm l, p khoản 1 điều 46; điểu 50; điều 51 Bộ luật hình sự 1999.

[2] Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự 1999: Buộc bị cáo Huỳnh Thị Thu T phải nộp số tiền 7.064.000 đồng (Bảy triệu không trăm sáu mươi tư nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước. [3] Căn cứ Điều 604, 605, 609, 610 của Bộ luật dân sự 2005: Buộc bị cáo Huỳnh Thị Thu T phải bồi thường cho người bị hại chị Ngu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "phạm tội “Mua bán người” và tội “Mua bán trẻ em” - phạm tội mua bán người (điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 điều 119; khoản 1 điều 120; điểm l, p khoản 1 điều 46; điểu 50; điều 51 Bộ luật hình sự 1999.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 119 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
-------------
Bản án số: 185/2018/HS-ST
Ngày 29- 11- 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Tuất

Ông Phạm Quý Hiền

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Phát- Thư ký Toà án huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Vòng A Chi- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom-tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/ 2018/ QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 30/2018/HSST-QĐ ngày 09/11/2018 đối với bị cáo:

Huỳnh Thị Thu T (tên gọi khác K), sinh năm: 1983 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Khu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn C, sinh năm: 1956 và bà Lê Thị Bích L, sinh năm: 1957; Có 03 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 22/10/2017 (Có mặt).

Người bị hại:

- Chị Nguyễn Thị Trúc M, sinh năm: 1994. Trú tại: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đ (Xin vắng mặt).

- Chị Dương Thị Thúy L, sinh năm: 2000. Trú tại: Tổ 3, thôn 9, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng năm 2014 do có thời gian lấy chồng, sinh sống tại Trung Quốc nên Huỳnh Thị Thu T quen biết với 02 người phụ nữ tên Lan và Hạnh (không rõ lai lịch nhân thân), sau đó T được bà Lan và bà Hạnh rủ rê nếu đưa được người phụ nữ từ Việt Nam sang Trung Quốc bán cho bà Lan, bà Hạnh thì sẽ được trả công 2.000 nhân dân tệ/1 người (tương đương 7.064.000 đồng Việt Nam). Sau đó T trở về Việt Nam chung sống cùng với Phạm Tuấn Anh tại phòng trọ thuê thuộc ấp Phú Sơn, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng tháng 7/2015 T quen biết với chị Nguyễn Thị Trúc Mai và cháu Dương Thị Thúy Liễu (sinh ngày 12/9/2000) thông qua Vi Tiến Mạnh (là cháu của Tuấn Anh) nên T nảy sinh ý định đưa Mai và Liễu sang Trung Quốc để bán cho bà Lan lấy tiền tiêu xài. T nói dối với Mai là đưa đi ra Hà Nội để làm thuê kiếm tiền nên Mai đồng ý. Đến ngày 19/9/2015 khi Trúc Mai và Thúy Liễu đến phòng trọ của T chơi, khi T nói đưa đi Hà Nội tìm việc làm thì Mai rủ Liễu cùng đi thì Liễu đồng ý. Sau đó T nói 02 đối tượng tên Trung và Huy (là bạn của Mạnh, không rõ lai lịch nhân thân) đưa Mai và Liễu đi trước bằng xe ra Hà Nội, còn T sẽ đi sau. Trên đường đi T điện thoại cho Trung và Huy nói đưa Mai, Liễu đến thành phố Hải Phòng chơi và ngủ lại qua đêm sau đó sẽ dẫn ra cửa khẩu để vượt biên sang Trung Quốc. Đến sáng ngày 22/9/2015 T đến Hải Phòng và cùng với Trung, Huy đưa Mai và Liễu đến cửa khẩu Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, sau đó T thuê thuyền để cả nhóm vượt biên giới sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch (bất hợp pháp). Đến 23 giờ đêm cùng ngày, T đưa Mai và Liễu đến tỉnh Giang Tây, Trung Quốc để gặp bà Lan và T đã bán Mai và Liễu cho bà Lan với số tiền 4.000 nhân dân tệ (bà Lan trả trước cho T 2.000 nhân dân tệ, số tiền còn lại sẽ trả sau). Sáng ngày 23/9/2015 T nói Mai và Liễu ở lại với bà Lan để tìm việc làm, còn T, Trung và Huy đi tìm việc làm ở nơi khác nhưng sau đó bỏ trốn về Việt Nam. Do biết đã bị T đã bán cho bà Lan nên Mai và Liễu đòi về thì bị bà Lan đe dọa và nhốt trong nhà không cho bỏ trốn. Sau khi mua Trúc Mai và Thúy Liễu từ T, bà Lan đã giao Thúy Liễu cho người phụ nữ tên Thanh (không rõ lai lịch nhân thân) đưa đến tỉnh Nam Ninh, Trung Quốc bán cho người đàn ông Trung quốc với giá 8.800.000 nhân dân tệ. Riêng Trúc Mai được bà Hạnh đưa đến tỉnh Giang Tây, Trung Quốc bán cho gia đình người Trung Quốc với giá 40.000 nhân dân tệ, sau đó Mai bỏ trốn thì bị bắt lại và tiếp tục bị bán cho người khác với giá 70.000 nhân dân tệ. Sau khi bị bán sang Trung Quốc, khoảng 03 tháng sau Trúc Mai đã liên lạc được với gia đình để đến trình báo Lực lượng Công an Việt Nam phối hợp cùng Lực lượng Công an Trung Quốc giải cứu vào ngày 06/01/2016 đưa về Việt Nam. Sau đó Trúc Mai đã đến Công an tỉnh Đồng Nai trình báo hành vi mua bán người của Huỳnh Thị Thu T.

Sau khi biết tin Trúc Mai đã trốn thoát và trình báo Công an tỉnh Đồng Nai, ngày 25/5/2017 Huỳnh Thị Thu T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Riêng cháu Dương Thị Thúy Liễu đến ngày 11/01/2017 cũng bỏ trốn và được Lực lượng Công an Trung Quốc giải cứu đưa về Việt Nam, sau đó cháu Liễu đã làm đơn tố cáo hành vi phạm tội của Huỳnh Thị Thu T đến Công an tỉnh Đồng Nai (Bút lục số: 32-57, 62-69, 86-100 ).

Ngày 22/6/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Huỳnh Thị Thu T về tội “Mua bán người” quy định tại Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999; Đến ngày 12/3/2018 đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom để điều tra theo thẩm quyền (Bút lục số: 01-02, 08, 11).

Ngày 03/7/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định trưng cầu giám định độ tuổi của cháu Dương Thị Thúy Liễu (sinh ngày 12/9/2000). Tại bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 0541/ĐT/2018 ngày 16/7/2018 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Đồng Nai xác định: Tại thời điểm giám định độ tuổi của cháu Dương Thị Thúy Liễu là 17 tuổi 06 tháng (+/-06 tháng, kể từ ngày 10/7/2018). Quá trình điều tra, tại thời điểm bị đưa sang Trung Quốc bán, cháu Dương Thị Thúy Liễu được 15 tuổi 06 tháng 12 ngày nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã khởi tố bổ sung đối với Huỳnh Thị Thu T về tội “Mua bán trẻ em” theo quy định tại Điều 120 Bộ luật hình sự (Bút lục số: 237-238, 242-245).

Ngoài ra, sau khi được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai cho tại ngoại điều tra, cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng bị can Huỳnh Thị Thu T đã bỏ trốn. Đến ngày 22/10/2017 Huỳnh Thị Thu T tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định khởi tố bị can và bắt tạm giam về tội “Mua bán trẻ em” theo quy định tại Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999, sau đó chuyển hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông tiến hành điều tra theo thẩm quyền (Bút lục số: 208-216).

Quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Thị Thu T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 130/CT/VKS-HS ngày 13 tháng 9 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị Thu T về tội “Mua bán người” theo khoản 1 điều 119 và tội “Mua bán trẻ em” theo khoản 1 điều 120 Bộ luật hình sự 1999.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Thu T phạm tội “Mua bán người” và tội “Mua bán trẻ em”. Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán người” và từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trẻ em”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội từ 05 năm đến 06 năm tù. Đề nghị tổng hợp hình phạt chung với bản bán đối với bị cáo đã có hiệu lực pháp luật. Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại và chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu) bị cáo T sử dụng để liên lạc với các đối tượng khác để thực hiện hành vi phạm tội, do bị cáo T khai nhận đã làm mất nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không thu hồi được. Đối với số tiền 7.064.000 đồng (2.000 nhân dân tệ) là tiền thu lợi bất chính nhưng hiện nay bị cáo T đã tiêu xài hết nên đề nghị Tòa buộc bị cáo T phải nộp lại sung công.

Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử chị Nguyễn Thị Trúc Mai yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 50.000.000 đồng và chị Dương Thị Thúy Liễu yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 70.000.000 đồng.

Đối với các đối tượng tên Trung, Huy (không rõ lai lịch nhân thân) và Vi Tiến Mạnh do hiện nay chưa làm việc được nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Thị Thu T đã khai nhận toàn hành vi phạm tội theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vào ngày 22/9/2015 tại ấp Phú Sơn, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Huỳnh Thị Thu T đã có hành vi đưa chị Nguyễn Thị Trúc Mai và cháu Dương Thị Thúy Liễu (sinh ngày 12/9/2000) qua biên giới bán cho người Trung Quốc nhằm thu lợi bất chính số tiền 7.064.000 đồng (Bảy triệu không trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).

Hành vi đưa chị Nguyễn Thị Trúc Mai qua biên giới bán cho người Trung Quốc của Huỳnh Thị Thu T đã phạm vào tội “Mua bán người” quy định tại khoản 1 Điều 119 Bộ luật hình sự 1999 và hành vi đưa cháu Dương Thị Thúy Liễu (tại thời điểm đó cháu Liễu được 15 tuổi 06 tháng 12 ngày) qua biên giới bán cho người Trung Quốc của Huỳnh Thị Thu T đã phạm vào tội “Mua bán trẻ em” quy định tại khoản 1 Điều 120 Bộ luật hình sự 1999.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự, trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự 1999. Bị cáo không có tình tiết tặng nặng. Nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tổng hợp hình phạt: Ngày 20/9/2018 bị cáo Huỳnh Thị Thu T bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông xử phạt 14 (mười bốn) năm tù về tội “mua bán người dưới 16 tuổi” tính từ ngày 22/10/2017, đã có hiệu lực pháp luật cần tổng hợp với hình phạt tại bản án này.

Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 7.064.000 đồng (2.000 nhân dân tệ) là tiền bị cáo thu lợi bất chính, cần buộc bị cáo nộp lại sung ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa người bị hại chị Nguyễn Thị Trúc Mai và chị Dương Thị Thúy Liễu yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần và danh dự, nhân phẩm. Trong đó chị Mai yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 50.000.000 đồng, chị Liễu yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 70.000.000 đồng, tại phiên Tòa bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại. Do đó, căn cứ điều 604, 605, 609, 610 của Bộ luật dân sự 2005 cần buộc bị cáo T phải bồi thường thiệt hại cho chị Mai số tiền 50.000.000 và bồi thường thiệt hại cho chị Liễu số tiền 70.000.000 đồng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Quan điểm đề nghị về tội danh truy tố đối với bị cáo của đại diện VKSND huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 điều 119; khoản 1 điều 120; điểm l, p khoản 1 điều 46; điểu 50; điều 51 Bộ luật hình sự 1999. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Thu T phạm tội “Mua bán người” và tội “Mua bán trẻ em”. Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù về tội “Mua bán người” và 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trẻ em”. Tổng hợp hình phạt của hai tội này với hình phạt 14 (mười bốn) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2018/HS-ST ngày 20/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông: Buộc bị cáo Huỳnh Thị Thu T phải chấp hành hình phạt chung là 19 (Mười chín) năm tù, Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2017.

[2] Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự 1999: Buộc bị cáo Huỳnh Thị Thu T phải nộp số tiền 7.064.000 đồng (Bảy triệu không trăm sáu mươi tư nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.

[3] Căn cứ Điều 604, 605, 609, 610 của Bộ luật dân sự 2005: Buộc bị cáo Huỳnh Thị Thu T phải bồi thường cho người bị hại chị Nguyễn Thị Trúc Mai số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và chị Dương Thị Thúy Liễu số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi hai triệu đồng).

[4] Buộc bị cáo Huỳnh Thị Thu T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Báo cho bị cáo, chị Liễu biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Mai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ