vanban.org

Bản án 147/2017/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 15/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sùng Seo D (Sùng Seo Bình) phạm tội Mua bán người.

1/ Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 119; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Sùng Seo D (Sùng Seo Bình) 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 30/3/2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng Seo D - phạm tội mua bán người (điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sùng Seo D (Sùng Seo Bình) phạm tội Mua bán người.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
T
N NH N N
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2017/HSST
Ngày 15 tháng 9 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lèo Thị Chan.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Cương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ơn a tham gia phiên tòa: Ông Cầm Văn Chiến – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 154/2017/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Sùng Seo D, tên gọi khác: Sùng Seo B. Sinh năm: 1989. Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ văn hóa: 11/12. Dân tộc: Mông. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Đảng phái, đoàn thể: không. Con ông: Sùng Chính Q và bà: Ma Seo D1, có vợ là Ngải Thị C và 02 con (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/3/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Và Thị D. Sinh năm: 1993. Nơi ĐKNKTT: Bản P, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Và Sái V (tên gọi khác: S). Sinh năm 1964. Nơi ĐKNKTT: Bản P, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Sùng Seo D (B) bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Cuối năm 2014, Sùng Seo D đi làm thuê ở huyện Hà Khẩu, Trung Quốc đã gặp và quen Và Thị H. Qua nói chuyện và giới thiệu, D biết H là người ở Sơn La nên H có xin số điện thoại của D để liên lạc, do H không biết chữ nên D đã ghi số điện thoại của D vào tờ giấy đưa cho H.

Đầu tháng 5/2016, khi D đang ở nhà thì nhận được điện thoại của H nhờ đi đón H ở xã Pha Long, huyện M, tỉnh Lào Cai vì H bị người khác bán sang Trung Quốc nay trốn về được, D nhất trí. Khoảng 15 giờ cùng ngày, D đi xe máy đến đón H ở xã P, huyện M, khi đến nơi thấy H và con gái là Vả Thị Ch khoảng 06 tuổi đi cùng. D sử dụng xe máy đưa hai mẹ con H về nhà D, khi đến xã Tả Ngải Chồ, M, Lào Cai, D nảy sinh ý định đưa H sang Trung Quốc bán lấy tiền để sử dụng nên đã gọi điện cho Vàng Seo C (chú họ của D) ở bên Trung Quốc và nói muốn bán 01 người phụ nữ sang Trung Quốc để làm vợ cho người khác, giá bán là 6000 NDT, Củi đồng ý. Sau khi gọi điện cho Củi xong, D nói với H là đưa hai mẹ con H sang nhà người bạn ở Trung Quốc chơi, sau đó D đi xe máy đưa hai mẹ con H theo đường tiểu ngạch thuộc xã Tả Ngải Chồ, M, Lào Cai, vượt biên giới Việt Nam - Trung Quốc đến nhà Vàng Seo Củi. Khoảng 18h cùng ngày thì đến nhà C, khi gặp nhau, C cho D biết đang chờ người đến xem mặt, để mua H. Ngày hôm sau, có 01 người đàn ông tên là V và 01 người phụ nữ tên Vàng Thị Tr, trú tại Hà Khẩu – Trung Quốc đến xem mặt để mua H. D trao đổi giá cả mua bán H với V là 6000 NDT, Thỉnh Vui nói “chỉ mua H với mục đích làm vợ và chỉ mua mẹ chứ không trả tiền mua con mà con đi theo mẹ” nên chỉ trả cho D 2000 NDT, D đồng ý. Sau khi nhận tiền của Thỉnh Vui, Vàng Thị Trà xin D 600 NDT để đi đường, D đồng ý. Đêm hôm đó, D ngủ lại nhà Thỉnh Vui, sáng hôm sau D về Việt Nam và lấy 1400 NDT đổi được 4.200.000đ và đã chi tiêu cá nhân hết số tiền trên. Còn hai mẹ con H được Thỉnh Vui đưa về nhà và sinh sống tại nhà V bên Trung Quốc. Sau khi về Việt Nam, D gọi điện thoại cho H biết tin H trong quá trình sinh sống với Thỉnh Vui bị đánh đập, phân biệt và H muốn trở về Việt Nam nên D đã liên lạc với bố mẹ H. Đến tháng 3/2017, D đưa Và Sái S (bố của H), Và Chờ V2 (chú của H), Và A V3 (anh trai của H) sang bên Trung Quốc đón hai mẹ con H về Việt Nam.

Ngoài ra, Và Thị H còn khai khoảng tháng 5/2015 bị Giàng A Ch, sinh năm 1989, trú tại; Bản S, xã LC, huyện M, Yên Bái lừa bán sang Trung Quốc cho người đàn ông tên là Kỳ nhưng sau đó H cùng con gái đã bỏ trốn về Việt Nam. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định được Giàng A Chiu hiện nay Chiu đang chấp hành án tại Trại giam Y - Tổng cục VIII về tội Mua bán người. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, lấy lời khai của Giàng A Ch, cho H đối chất với Chiu nhưng Giàng A Ch không thừa nhận bán H cho người đàn ông tên Kỳ ở Trung Quốc. Ngoài lời khai của H, không có căn cứ khác chứng minh hành vi phạm tội của Giàng A Ch.

Đối với đối tượng tên K, V, Vàng Seo C, Vàng Thị Tr hiện đang ở Trung Quốc và không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ.

Do có hành vi trên, tại cáo trạng số 769/VKS-P1 ngày 29/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Sùng Seo D về tội Mua bán người, theo điểm đ khoản 2 Điều 119 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 119; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Sùng Seo D 05 đến 06 năm tù

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất về danh dự, nhân phẩm và tiền công truy tìm cho người bị hại theo quy định của pháp luật.

Không áp dụng hình phạt bổ sung và vật chứng giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Sùng Seo D nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại Và Thị H đề nghị Hội đồng xét xử xem buộc bị cáo Sùng Seo D bồi thường tiền tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật và tiền công truy tìm là 42.000.000đ và xử phạt bị cáo nghiêm khắc, theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Do hám lời, nên khoảng tháng 5/2016 Sùng Seo D đã có hành vi đón và đưa Và Thị H từ M, Lào Cai sang Trung Quốc để bán lấy số tiền 1.400 NDT (tương đương 4.200.000 VNĐ). Tháng 3/2017, Và Thị H đã được gia đình đón về Việt Nam.

Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Đơn tố cáo của anh Và A Thánh (em trai Và Thị H) ngày 18/3/2017 về hành vi bán Và Thị H sang Trung Quốc của Sùng Seo D.

- Biên bản nhận dạng lập hồi 13h10’ ngày 13/4/2017 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Co Tòng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

- Lời khai của người bị hại Và Thị H

- Lời khai nhận tội của bị cáo.

Với các căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Sùng Seo D đã phạm tội Mua bán người, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 119 Bộ luật Hình sự.

Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Sùng Seo D là người có nhận thức, biết việc mua bán người là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi D vẫn cố ý đưa người bị hại Và Thị H sang Trung Quốc để bán cho người khác làm vợ. Hành vi của bị cáo vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Để đưa ra nước ngoài”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 119 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 05 năm đến 20 năm.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của con người được Hiến pháp quy định và được pháp luật bảo vệ nên cần có một mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét: bị cáo không có tiền án, tiền sự; tại quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có tài sản để đảm bảo việc thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) quy định tại khoản 3 Điều 119 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, người bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất danh dự, nhân phẩm theo quy định của pháp luật và chi phí tìm kiếm là 42.000.000đ.

Xét đề nghị của người bị hại Và Thị H là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Xét khoản tiền công truy tìm của người liên quan Và Sái Vả yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 42.000.000đ. Tuy nhiên, không đưa ra được căn cứ chứng minh số lần, số người, thời gian đi tìm nên chỉ chấp nhận một phần.

Vật chứng vụ án: Đối với chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo, xét thấy là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Sùng Seo D (Sùng Seo Bình) phạm tội Mua bán người.

1/ Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 119; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Sùng Seo D (Sùng Seo Bình) 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 30/3/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 592 Bộ luật Dân sự 2015:

Buộc bị cáo Sùng Seo D (Bình) phải bồi thường cho người bị hại Và Thị H tiền thiệt hại do danh dự nhân phẩm bị xâm phạm là 13.000.000đ.

Buộc bị cáo Sùng Seo D (Bình) phải trả cho ông Và Sái V (S) chi phí tìm kiếm người bị hại là 10.000.000đ.

3/ Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu JXD, mặt sau điện thoại có dòng chữ China Mobile 4GLTE, vỏ màu trắng, IMEI có số 866767022389529 kèm 01 thẻ nhớ, 02 sim điện thoại đã qua sử dụng (của bị cáo Sùng Seo D).

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.150.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/9/2017).

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ