vanban.org

Bản án 185/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Tố O và anh Lê Thanh Tr.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung tên Lê Gia Kh, sinh ngày 25/12/2008 và Lê Gia T, sinh ngày 29/4/2013 cho chị Ngô Tố O trực tiếp nuôi dưỡng, hiện nay chị O đang nuôi. Anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Tố O và anh Lê Thanh Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình anh Tr; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ANGIANG
Bản án số: 185/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 24 – 5 – 2018
“V/v ly hôn giữa
Chị O và anh Tr”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sức

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh

- Thư ký phiên tòa: Trương Phú Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú T tham gia phiên tòa:

Ông Lê Hữu Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2018/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Tố Oanh, sinh năm 1982 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà 49, ấp Tân Th, xã Tân Tr, huyện Phú T, tỉnh An Giang

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Quách Thanh Phong – Văn phòng Luật sư Quách Phong thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Thanh Tr, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà 49, ấp Tân Th, xã Tân Tr, huyện Phú T, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Ngô Tố O trình bày:

- Quan hệ hôn nhân: Sau khi tìm hiểu về tình cảm, năm 2008 chị và anh Tr đồng ý tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kiến A, huyện Chợ M, tỉnh An Giang ngày 25/6/2008. Vợ chồng sống riêng tại xã Tân Tr, huyện Phú T, nhưng anh Tr không lo làm ăn mà thường xuyên uống rượu, một mình chị phải lo kinh tế gia đình. Ngoài ra, mẹ chồng nghi ngờ chị có thai với người khác nên nhiều lần nặng lời với chị. Đến tháng 8/2016 anh Tr uống rượu rồi ghen tuông vô cớ đánh đập chị, chị buồn nên định uống thuốc tự tử và anh Tr can ngăn. Đến đầu năm 2017 vợ chồng ra huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang làm công nhân sinh sống, anh Tr nghi ngờ chị có quan hệ tình cảm với người khác và ghen tuông nhiều lần đánh đập, chị buồn nên uống thuốc tự tử, anh Tr đưa đến bệnh viện để cứu chữa. Sau đó anh Tr thường xuyên uống rượu và về nhà kiếm chuyện ghen tuông rồi tiếp tục đánh chị. Ngày 11/02/2018 anh Tr uống rượu vào đánh chị nên bị Công an xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc mời lên làm việc giáo dục, anh cam kết không tái phạm, nhưng vì chị sợ nên bỏ trốn đi thuê nhà khác ở, từ tết năm 2018 đến nay chị O trở về nhà mẹ ruột sống. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Lê Thanh Tr.

Bị đơn là anh Lê Thanh Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh không đến tham gia tố tụng, không gửi ý kiến bằng văn bản, nên không có lời khai.

- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Gia Kh, sinh ngày 25/12/2008 và Lê Gia T, sinh ngày 29/4/2013 hiện nay cả 02 con đang sống với chị O, chị yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng.

- Về chia tài sản và nợ chung: Không có

Theo chị O trình bày mâu thuẫn vợ chồng có cha mẹ hai bên biết, mẹ ruột của chị tên Trần Thị Tố U, hiện nay sống tại 191/1A Nguyễn Huệ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Mẹ chồng tên Ngô Thị H trú tại ấp Long Thượng, xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang và đề nghị Tòa án xác minh.

Tòa án thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của chị O và anh Tr, được bà Trần Thị Tố U cho biết vợ chồng O mâu thuẫn do Tr không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu và ghen tuông vô cớ, nhiều lần Tr đánh O, bà động viên chị O và anh Tr để vợ chồng trở lại sống chung, nhưng O và Tr không hàn gắn được, bà nhận thấy chị O và anh Tr mâu thuẫn không thể hàn gắn, bà đề nghị Tòa án cho chị O và anh Tr ly hôn. Bà Ngô Thị H cho biết bà là mẹ của anh Lê Thanh Tr, từ khi cưới đến năm 2017 O và Tr sống với nhau bình thường, từ tết năm 2018 bà có nghe Tr nói vợ chồng cự cãi với nhau về tiền bạc làm không đủ sống, O mang con về nhà mẹ ruột sống đến nay, bà yêu cầu Tòa án hòa giải để O và Tr trở lại sống chung.

Luật sư Quách Thanh Phong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị O phát biểu ý kiến, chị O và anh Tr mâu thuẫn do anh Tr đánh đạp chị O, chị O xin ly hôn, nhiều lần Tòa án triệu tập anh Tr không đến, anh Tr bị công an xã giáo dục về việc đanh vợ. Chị O đang nuôi con và yêu cầu tiếp tục nuôi. Căn cứ Điều 56, 81 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yeeuc ầu của chị O.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đối với anh Lê Thanh Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh Tr chấp hành nghĩa vụ tố tụng dân sự chưa nghiêm. Về nội dung vụ án, hôn nhân giữa chị O và anh Tr là hợp pháp vì có đăng ký kết hôn, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, chị O đang nuôi con, yêu cầu của chị O phù hợp với Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Ngô Tố O khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Thanh Tr Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Ngô Tố O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Lê Thanh Tr (là bị đơn) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở nhại khách quan.Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Ngô Tố O và vanh Lê Thanh Tr.

Hôn nhân của chị O và anh Tr là hợp pháp, vì anh chị có đăng ký kết hôn. Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thấy rằng vợ chồng mâu thuẫn kéo dài và ly thân từ tháng 02/2018 đến nay, do anh Tr có hành vi bạo lực gia đình đánh chị O, thể hiện tại tờ tường trình ngày 11/02/2018 anh Trung thừa nhận đánh chị O và cam kết không tái phạm có xác nhận của Công an xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Ngoài ra, từ khi ly thân đến nay vợ chồng không hàn gắn và mẹ chị Oanh động viên, hàn gắn để vợ chồng trở lại sống chung nhưng cũng không hàn gắn được. Từ đó, cho thấy hôn nhân của chi O và anh Tr lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đật được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị O, đề nghị của Luật sư và đề nghị của đại diện Viện kiểm sất, cho ly hôn giữa chị O và anh Tr.

Về nuôi con chung: Chị O yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Lê Gia Kh sinh ngày 25/12/2008 và Lê Gia T sinh ngày 29/4/2013, từ khi ly thân đến nay 02 cháu sống với chị O có cuộc sống ổn định, cháu Kh trên 7 tuổi có nguyện vọng sống với mẹ. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị O được tiếp tục nuôi cháu Lê Gia Kh và cháu Lê Gia T, chị O không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng, nên anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con.

Căn cứ khoản 3 Điều 82, Điều 83, 84, 116 Luật hôn nhân và gia đình anh Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Không có, Tòa án không đề cập.

Về nợ chung: Ghi nhận chị O xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

Về án phí sơ thẩm, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị O phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83, 84, 116 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Tố O và anh Lê Thanh Tr.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Lê Gia Kh, sinh ngày 25/12/2008 và Lê Gia T, sinh ngày 29/4/2013 cho chị Ngô Tố O trực tiếp nuôi dưỡng, hiện nay chị O đang nuôi. Anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.2. Anh Lê Thanh Tr không trực tiếp nuôi con, anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản: Không có.

Về nợ chung: Ghi nhận chị Oanh xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

5. Về án phí sơ thẩm: Chị Ngô Tố O phải chịu 300.000đ được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu tiền số 0016503 ngày 03/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú T.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ